Top 10 những thắc mắc của phụ huynh khi chọn trường cho con

Từ vựng tiếng Anh chủ đề Tiệm Cắt Tóc/Baber-shop/English Vocabulary/English Online
Từ vựng tiếng Anh chủ đề Tiệm Cắt Tóc/Baber-shop/English Vocabulary/English Online

  • 1. Chọn trường công hay trường tư cho con?
  • 2. Tìm hiểu thông tin về trường qua những kênh thông tin nào là chính xác?
  • 3. Chọn trường cần dựa trên những tiêu chí nào?
  • 4. Học phí của trường quốc tế có đắt không?
  • 5. Học trường quốc tế có những lợi thế gì so với trường công?
  • 6. Có cần chạy theo những trường công thuộc top đầu cho con hay không?
  • 7. Chọn trường quốc tế nào phù hợp với con?
  • 8. Trường quốc tế nào tốt nhất hiện nay?
  • 9. Lựa chọn trường theo năng lực của con hay theo “trào lưu” trường tốt?
  • 10. Có nên tham khảo ý kiến con khi chọn trường hay không?
  • 1. Chọn trường công hay trường tư cho con?
  • 2. Tìm hiểu thông tin về trường qua những kênh thông tin nào là chính xác?
  • 3. Chọn trường cần dựa trên những tiêu chí nào?
  • 4. Học phí của trường quốc tế có đắt không?
  • 5. Học trường quốc tế có những lợi thế gì so với trường công?
  • 6. Có cần chạy theo những trường công thuộc top đầu cho con hay không?
  • 7. Chọn trường quốc tế nào phù hợp với con?
  • 8. Trường quốc tế nào tốt nhất hiện nay?
  • 9. Lựa chọn trường theo năng lực của con hay theo “trào lưu” trường tốt?
  • 10. Có nên tham khảo ý kiến con khi chọn trường hay không?

top-10-nhung-thac-mac-cua-phu-huynh-khi-chon-truong-cho-con

Chọn trường khi cho con vào lớp 1 đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ sau này. Vì vậy, việc chọn trường cho con khiến phụ huynh rối lòng. Không chỉ các em mới vào lớp 1 mà với những em đang có nhu cầu chuyển trường thì việc chọn trường phù hợp với các em cũng rất khó khăn. Sau đây là những điều phụ huynh thường thắc mắc khi chọn trường cho con.

1. Chọn trường công hay trường tư cho con?

Ngày nay khi trường quốc tế, trường tư thục mọc lên như nấm thì đây có lẽ là nỗi băn khoăn hàng đầu của các quý phụ huynh. Trường công hay trường tư đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định.

Lựa chọn trường quốc tế là môi trường thuận lợi cho các em rèn luyện vốn ngoại ngữ, kỹ năng sống chuẩn bị cho con đường du học

Vì vậy, các bậc cha mẹ không nên đánh giá một cách chủ quan theo ý của mình. Điều quan trọng là phải có định hướng lâu dài để quyết định đúng đắn. Nếu gia đình bạn đang có dự định sau này cho con đi du học thì việc lựa chọn trường quốc tế sẽ là môi trường thuận lợi cho các em rèn luyện vốn ngoại ngữ cũng như kỹ năng, môi trường học tập quốc tế. Điều này sẽ giúp các em tránh được những bỡ ngỡ sau này.

2. Tìm hiểu thông tin về trường qua những kênh thông tin nào là chính xác?

Các trường tư thục, trường quốc tế hiện nay được báo chí nhắc tới rất nhiều. Tuy nhiên, bạn không nên hoàn toàn tin theo những thông tin này mà cần có sự kiểm chứng rõ ràng. Người thân, bạn bè hay tất cả những nguồn tin mà bạn nhận được đều là những nguồn tham khảo lý tưởng. Bên cạnh đó, bạn cũng nên đến trường để tham quan, trực tiếp xác minh những thông tin này. Qua nhiều nguồn thông tin đảm bảo bạn sẽ có sự lựa chọn sáng suốt hơn.

3. Chọn trường cần dựa trên những tiêu chí nào?

Giữa bao nhiêu ngôi trường với những lời ca ngợi rất hấp dẫn tuy nhiên để chọn cho bé một ngôi trường tốt không phải là điều dễ dàng. Thực tế nhiều gia đình phải chuyển trường liên tục qua các năm học cho bé. Điều này khiến các em gặp phải một số rắc rối như khó thích ứng với môi trường và ảnh hưởng lớn tới việc học.

top10-2

Để tránh tình trạng này, cha mẹ hãy đặt ra những tiêu chí chọn trường cho con như chọn trường uy tín lâu năm chất lượng tốt, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ giáo viên trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm, nhà trường có định hướng, phương pháp đào tạo rõ ràng. Để có những thông tin này chính xác, phụ huynh nên tới trực tiếp trường để được tư vấn.

4. Học phí của trường quốc tế có đắt không?

Khi so sánh mức học phí ở trường công và trường tư chúng ta thấy có sự chênh lệch lớn. Điều này khiến nhiều phụ huynh muốn cho con học tại trường quốc tế băn khoăn đặc biệt với những gia đình có mức thu nhập trung bình. Nhiều gia đình với suy nghĩ đầu tư vào giáo dục không bao giờ là lỗ nên cố gắng cho con theo học tại trường quốc tế. Tuy nhiên, đến một lúc thấy mức học phí rất khó để kham nổi nên cho con chuyển sang trường công và điều này gây khó khăn cho quá trình theo học của bé. Để có sự lựa chọn đúng đắn, cha mẹ hãy tính toán cẩn thận ngay từ đầu để có sự đầu tư đúng mức.

5. Học trường quốc tế có những lợi thế gì so với trường công?

Trong khi các trường quốc tế nổi lên thì đây là câu hỏi mà nhiều phụ huynh chưa tìm được lời giải.

Cơ sở vật chất tốt, chương trình dạy học bằng tiếng Anh nhà trường chú trọng dạy kỹ năng sống là những lợi thế của trường quốc tế

Phải nói rằng, trường quốc tế có những lợi thế nhất định mà trường công không có được như cơ sở vật chất tốt hơn, chương trình dạy học bằng tiếng Anh là một lợi thế, nhà trường chú trọng dạy kỹ năng sống cho các em. Những yếu tố này là điều kiện thuận lợi cho các em trong quá trình học tập và làm việc sau này.

6. Có cần chạy theo những trường công thuộc top đầu cho con hay không?

Cha mẹ luôn muốn cho con một môi trường học tập thật tốt, vì vậy nhiều người theo xu hướng chọn những trường thuộc top đầu. Tuy nhiên, những ngôi trường đó do số lượng học sinh đăng kí đông nên để được một suất cho con, phụ huynh phải vất vả chạy ngược chạy xuôi. Thực tế đây không phải là sự lựa chọn duy nhất nên chúng ta hãy tự mở những cánh cửa cho con mình bằng những sự lựa chọn khác. Hiện nay hệ thống trường quốc tế cũng không kém cạnh và đang được quý phụ huynh tín nhiệm. Nhiều gia đình đã giải quyết được vấn đề trường học cho con khi nghĩ ngay đến trường quốc tế mà không cần mất nhiều thời gian so đo, tính toán.

7. Chọn trường quốc tế nào phù hợp với con?

Hiện nay nhiều trường quốc tế được quý phụ huynh biết đến với những lời quảng cáo, mời chào rất hấp dẫn. Tuy nhiên các cha mẹ hãy tìm hiểu cẩn thận với những nguồn thông tin này và cần có sự kiểm chứng kỹ lưỡng. Đặc biệt, tùy theo kế hoạch lâu dài để lựa chọn cho phù hợp.

Chương trình giảng dạy của Trường Tây Úc được Bộ Giáo dục Việt Nam công nhận và quý phụ huynh đánh giá cao

Ví dụ bạn muốn con du học ở Úc, Anh, Mỹ… một số nước sử dụng tiếng Anh thì Trường Tây Úc sẽ là lựa chọn hợp lý bởi chất lượng giảng dạy của trường đã được Bộ Giáo dục Việt Nam công nhận và được quý phụ huynh đánh giá cao. Hiện nay trên cả nước ta số lượng trường quốc tế được Bộ Giáo dục công nhận không nhiều, phụ huynh cần tìm hiểu rõ hơn về những thông tin này.

8. Trường quốc tế nào tốt nhất hiện nay?

Rất khó để đưa ra một đáp án chính xác cho câu hỏi này khi công tác quản lý các trường quốc tế của Bộ Giáo dục Việt Nam còn lỏng lẻo. Nhiều trường đội lốt trường quốc tế nhưng chất lượng chưa thực sự quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta có thể đánh giá những trường quốc tế thuộc tốp đầu dựa vào những tiêu chí như chương trình dạy học được Bộ Giáo dục công nhận, cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc tế… Mỗi trường sẽ có những điểm mạnh khác nhau và với những ngôi trường này phụ huynh hoàn toàn có thể yên tâm với chất lượng giáo dục.

9. Lựa chọn trường theo năng lực của con hay theo “trào lưu” trường tốt?

Nhiều cha mẹ suy nghĩ phải cho con học trường top đầu bằng mọi giá mà quên rằng năng lực của con mình rất khó để theo học tại đây. Nếu phụ huynh không nắm được năng lực của con mình hay vì “sính”, chạy theo trào lưu sẽ khiến con rất khó khăn để theo kịp bạn bè.

Cũng không phải chỉ có trường thuộc top đầu học sinh mới giỏi mà điều quan trọng là môi trường giáo dục trong nhà trường kết hợp với môi trường gia đình, xã hội tốt là điều kiện thuận lợi cho các em phát triển. Vì vậy, việc lựa chọn một ngôi trường phù hợp với năng lực của con là nền móng vững chắc giúp bé tự tin vươn lên trong học tập.

Tham khảo ý kiến của con khi chọn trường sẽ giúp các em dễ hòa nhập môi trường, có động lực học hành tiến bộ

10. Có nên tham khảo ý kiến con khi chọn trường hay không?

Cha mẹ thường mải miết tìm trường cho con mà quên để ý xem bé có thực sự thích ngôi trường đó hay không. Cho dù các em chuẩn bị vào lớp một hay các học sinh đã lớn thì việc hỏi ý kiến con cũng là cách để trẻ thấy mình được tôn trọng và nếu các em thực sự thích ngôi trường đó thì quá trình hòa nhập môi trường, học tập sẽ thuận lợi hơn. Vì vậy, khi chọn trường cho con các bậc phụ huynh hãy dẫn con tham quan trường. Có thể con không thích ngôi trường cha mẹ chọn nhưng nếu cha mẹ thuyết phục bé với lý lẽ xác đáng thì chắc chắn con bạn sẽ có cái nhìn thiện chí hơn trong trường hợp này.

Việc chọn trường cho con luôn là băn khoăn, lo lắng của các bậc phụ huynh, đặc biệt với những gia đình có con sắp bước vào lớp 1. Một ngôi trường phù hợp sẽ là nền tảng giúp con học hành tiến bộ. Không phải cứ trường tốt là việc học của con đã được đảm bảo mà cha mẹ hãy lưu ý môi trường trong gia đình, xã hội cũng là nhân tố quyết định tới sự phát triển của các em.

An Nhiên

Bạn đang xem bài viết: Top 10 những thắc mắc của phụ huynh khi chọn trường cho con. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Anh Ngữ Let’s Talk

Từ Vựng Tiếng Anh: Cách Đọc Các Ký Hiệu- Symbol/ English online
Từ Vựng Tiếng Anh: Cách Đọc Các Ký Hiệu- Symbol/ English online

Cơ sở vật chất tại Anh Ngữ Let’s Talk

Trong lĩnh vực giáo dục thì cơ sở vật chất được coi là một trong những điều kiện tiên quyết trong việc phát triển đào tạo, nếu thiếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực hoặc không thể triển khai tốt các hoạt động dạy và học. Đây chính là yếu tố quan trọng bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời cũng là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình kiện toàn hệ thống ở Anh Ngữ Let’s Talk

Với sự phát triển ngày càng lớn mạnh cũng như đáp ứng tối đa được các nhu cầu của học viên, Anh Ngữ Let’s Talk đã hoàn thiện cơ sở vật chất. Đến đây, bạn sẽ thấy được sự khang trang – tiện nghi – hiện đại – linh hoạt của cơ sở vật chất. Chính yếu tố này đã góp phần tạo cảm giác thoải mái cho các học viên khi tham gia học tập tại đây. Từ đó giúp cho học viên tự tin hơn, phấn đấu hơn trong học tập, nâng tầm giá trị của mình trong tương lai để xứng đáng với những gì được lĩnh hội. Đó cũng là mục tiêu mà Anh Ngữ Let’s Talk luôn duy trì và phát huy.











Bạn đang xem bài viết: Anh Ngữ Let’s Talk. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Cơ Sở Vật Chất

Anh ngữ ALES – Phương pháp 3 kèm 1| Cơ sở vật chất tại ALES
Anh ngữ ALES – Phương pháp 3 kèm 1| Cơ sở vật chất tại ALES

Đến với Ocean Edu, ấn tượng đầu tiên mà tất cả quý phụ huynh và học sinh có thể cảm nhận được đó là hệ thống cơ sở vật chất khang trang, hiện đại của một trung tâm Anh ngữ xứng tầm quốc tế.

Thấu hiểu việc đầu tư cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm chất lượng giáo dục, Ocean Edu đã kiện toàn hệ thống cơ sở vật chất tại tất cả các chi nhánh đào tạo đều đạt chuẩn quốc tế với không gian khang trang – hiện đại – tiện nghi từ khu vực lễ tân cho tới từng phòng học. Điều này tạo nên môi trường học tập tiếng Anh lý tưởng cho học viên để việc học tập đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời giúp học viên tự tin, vui vẻ và thoải mái trong mỗi giờ học.

KHU VỰC LỄ TÂN

Khu vực lễ tân chính là nơi đầu tiên chào đón tất cả các bạn học viên và phụ huynh đến với Ocean Edu. Đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chuyên nghiệp của Ocean Edu sẽ tận tâm tư vấn giúp các bạn học viên chọn được khóa học phù hợp và các bậc phụ huynh yên tâm khi gửi gắm con mình học tập tại đây.

Khu vực lễ tân

Cũng tại đây, các bạn sẽ được thư giãn thoải mái trong một không gian mở, tạo điều kiện để học viên tương tác, trao đổi với nhau những kiến thức, những thông tin bổ ích sau giờ lên lớp và tự do đọc sách, nghiên cứu tài liệu. Quầy sách của Ocean Edu được bố trí gọn gàng ngay cạnh quầy lễ tân. Đây là thư viện học tập vô cùng thiết yếu và bổ ích với đầy đủ học liệu cho các cấp độ khác nhau, bao gồm: Sách học, sách tham khảo về tiếng Anh, tập san Công ty, tờ giới thiệu các chương trình thi Cambridge, chương trình đào tạo cho từng lứa tuổi,… giúp người học dễ dàng tham khảo, tra cứu thông tin.

KHU PHÒNG HỌC

Khu phòng học của Ocean Edu được chia thành các khu vực sau: Không gian học cho lứa tuổi từ 4-11 tuổi, không gian học cho lứa tuổi từ 11-16 tuổi, không gian của người lớn và không gian học một thầy một trò. Mỗi không gian phòng học đều có phong cách thiết kế riêng biệt, phù hợp với từng cấp độ, chương trình đào tạo đặc thù riêng để nâng cao hứng thú, hiệu quả học tập.

Không gian Kindy + Kids: dành cho các em nhỏ và các bạn học sinh Tiểu học. Thiết kế phòng học nhiều màu sắc vui nhộn và nhiều dụng cụ trực quan sinh động, giúp các em được tiếp xúc với ngoai ngữ một cách gần gũi và dễ hiểu dễ nhớ nhất, các em sẽ hứng thú hơn với việc học tiếng Anh mỗi ngày.

Không gian Kindy + Kids

Không gian Teens: dành cho các bạn học sinh Trung học. Thiết kế tươi mới, rộng rãi với các dãy bàn ghế được sắp xếp quy củ, ngăn nắp, hầu hết là bàn 1 người theo phong cách phương Tây, giúp các bạn học viên tự chủ hơn trong học tập và hoàn thiện các kỹ năng.

Không gian Teens

Không gian người lớn: Phòng học của các học viên người lớn thường nhỏ hơn, với quy mô tập trung hơn, cơ sở vật chất hiện đại và đầy đủ học liệu phục vụ cho việc học tập của học viên.

Không gian người lớn

Không gian VIP: dành cho một thầy một trò là phòng học tạo điều kiện tốt nhất cho người học với hệ thống máy móc tốt nhất để đáp ứng nhu cầu học tập với chất lượng cao nhất.

Không gian học một thầy một trò

Mỗi phòng học đều được trang bị đầy đủ các thiết bị máy móc và phương tiện giảng dạy tiên tiến nhất hiện nay như: Máy chiếu – Overhead, Projector, tivi, đầu DVD, máy cassette và nhiều dụng cụ học tập thiết yếu khác.

Cách sắp xếp bàn ghế, bài trí không gian khoa học, sáng tạo cũng góp phần tạo cảm giác thoải mái, thư giãn cho học viên trong suốt quá trình học tập. Số lượng tối đa cho một lớp học là 15 – 20 học viên nhằm tạo điều kiện cho giáo viên và học viên trong lớp có thể dễ dàng tương tác trực tiếp với nhau, giúp nâng cao khả năng tiếp thu và phát triển tốt kỹ năng Nghe – Nói.

Bên cạnh đó, thư viện của Ocean Edu có máy tính kết nối mạng internet, cùng các nguồn tài liệu phong phú, đa dạng được tổng hợp kỹ lưỡng để học viên phát triển kỹ năng tự học một cách tốt nhất. Hệ thống Internet cáp quang không dây (WIFI) miễn phí trong tất cả khu vực nội bộ của trung tâm sẽ là tiện ích lớn cho học viên có thể tự do lựa chọn nơi học tập.

Có thể nói, những tiện ích ưu việt về cơ sở vật chất mà Ocean Edu cung cấp cho các bạn học viên sẽ mang lại những phút giây học tập thật hiệu quả, thân thiện và thoải mái, giúp các bạn gặt hái được thành quả cao nhất trong quá trình học tập tại Ocean Edu.

Bạn đang xem bài viết: Cơ Sở Vật Chất. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch là gì? Vai trò

Học tiếng Anh chủ đề Nghề Nghiệp- Occupations/Jobs- English Online
Học tiếng Anh chủ đề Nghề Nghiệp- Occupations/Jobs- English Online

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch là gì? Vai trò

Cơ sở vật chất kĩ thuật

Hình minh hoạ (Nguồn: hoteljob)

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch

Khái niệm

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch được hiểu là phương tiện vật chất kĩ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ.

Theo cách hiểu này, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch bao gồm cả cơ sở vật chất kĩ thuật thuộc bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành khác cũng như của cả nền kinh tế quốc dân tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như hệ thống đường sá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện nước …

Những yếu tố này được gọi chung là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng xã hội được xem là những yếu tố đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch. Điều này cũng khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa du lịch với các ngành khác trong mối liên hệ ngành.

Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kĩ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách.

Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển … Đây chính là các yếu tố đặc trưng trong hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch.

Nếu thiếu những yếu tố này thì nhu cầu của khách du lịch không được thỏa mãn. Do vậy, đây chính là yếu tố trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách.

Vai trò của cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch

Cơ sở vật chất kĩ thuật là một trong những yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Nó là yếu tố đảm bảo về điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện.

Mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh để có thể hoạt động đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng. Nói một cách khác, để có thể tiến hành khai thác được các tài nguyên du lịch phải tạo ra được hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng.

Hệ thống này vừa đảm bảo phù hợp với đặc trưng của dịch vụ du lịch, đồng thời phải phù hợp với đặc thù của tài nguyên du lịch tại đó. Một quốc gia, một doanh nghiệp muốn phát triển du lịch tốt phải có một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tốt.

Do đó, có thể nói rằng, trình độ phát triển của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng là thể hiện trình độ phát triển du lịch của một đất nước.

Đặc điểm của cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch

– Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên du lịch

Điều này thể hiện ở chỗ ở đâu có tài nguyên du lịch muốn khai thác được thì ở đó phải có cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch. Ngược lại, không thể xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch ở những nơi không có tài nguyên du lịch.

– Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có tính đồng bộ trong xây dựng và sử dụng

Đặc điểm này xuất phát từ tính tổng hợp của nhu cầu du lịch gồm cả nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung.

Khách du lịch luôn đòi hỏi phải được thoả mãn đồng thời tất cả những nhu cầu đó. Do vậy cần có sự đồng bộ các yếu tố về sở sở vật chất kĩ thuật du lịch.

– Thời gian hao mòn thành phần chính của hệ thống cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch tương đối lâu.

Đặc điểm này là do thành phần chính của cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch là các công trình kiến trúc kiên cố như các tòa nhà khách sạn, nhà hàng hay các công trình kiến trúc khác.

– Một số thành phần của hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch được sử dụng không cân đối.

Trong du lịch, do chịu ảnh hưởng của yếu tố thời vụ, một số vùng, điểm du lịch hoạt động có tính thời vụ, do vậy cơ sở vật chất – kĩ thuật chỉ được sử dụng vào một số thời điểm nhất định.

Yêu cầu đối với cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch

– Mức độ tiện nghi

Do mục đích của du lịch thường là để tìm kiếm những ấn tượng, cảm giác khác lạ, khác với điều kiện cuộc sống hàng ngày. Do vậy, khách du lịch luôn muốn được sinh hoạt trong điều kiện tiện nghi, hiện đại và thuận tiện.

– Mức độ thẩm mĩ

Mức độ thẩm mĩ trước hết được thể hiện ở khâu thiết kế, hình thức bên ngoài, các bố trí sắp đặt và màu sắc.

Khi đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch phải quan tâm đến thiết kế đảm bảo hình dáng bên ngoài cũng nhu thiết kế tiện nghi hài hòa, hợp lí về màu sắc, vừa đảm bảo tính tiện dụng.

– Mức độ vệ sinh

Trong kinh doanh du lịch, vệ sinh của hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật luôn là một yêu cầu bắt buộc. Mức độ vệ sinh không có sự phân biệt giữa các loại hình du lịch hay loại hạng của chúng.

Vấn đề vệ sinh không chỉ được đặt ra với các trang thiết bị thuộc cơ sở vật chất kĩ thuật mà còn phải đảm bảo cả với môi trường xung quanh.

– Mức độ an toàn

Nhu cầu an toàn đứng thứ hai trong thứ bậc nhu cầu của con người. Trong hành trình du lịch, du khách luôn mong muốn sự an toàn về cả tính mạng cũng như tài sản, tinh thần.

Một số loại hình cơ sở vật chất kĩ thuật cơ bản trong du lịch

Cơ sở lưu trú du lịch

Phương tiện vận chuyển khách du lịch

Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch

Cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm du lịch

(Tài liệu tham khảo: Giáo trình bồi dưỡng Nghiệp vụ cho Thuyết minh viên Du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Tổng cục Du lịch)

Bạn đang xem bài viết: Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch là gì? Vai trò. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Từ Vựng Tiếng Anh: Cảnh Sát- Police/ English Online
Từ Vựng Tiếng Anh: Cảnh Sát- Police/ English Online

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người.

Triết học Mác – Lênin là nền tảng và là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, việc nắm bắt và hiểu những quy luật này sẽ giúp cá cá nhân góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Triết học Mác – Lênin có rất nhiều vấn đề được nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đời sống con người, đến tự nhiên, xã hội như vật chất, ý thức, mối quan hệ biện chứng, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm… Và một trong số những nội dung phổ biến nhất trong môn học này là Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là gì?

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người.

Theo Lê-nin thì vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách quan, đem đến cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chép lại, chụp lại, phản ánh lại và không tồn tại lệ thuộc vào cảm giác.

Đặc điểm của vật chất:

– Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự tồn tại thông qua vận động.

– Không có vận động ngoài vật chất và không có vật chất không có vận động;

– Vật chất vận động trong không gian và thời gian;

– Không gian và thời gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể và là hình thức tồn tại của vật chất.

Bên cạnh vật chất, ý thức là kết quả của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội. Ý thức mang bản chất là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chính là sự phản ánh tích cực, tự giác, chủ động thế giới khách quan và bộ não con người thông qua hoạt động thực tiễn.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua lại lẫn nhau. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau:

Thứ nhất: Vật chất có vai trò quyết định ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:

Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.

Thứ hai: Ý thức tác động trở lại vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực cúa ý thức. Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.

Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.

Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.

Ý nghĩa phương pháp luận

– Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động

Tri thức mà con người thu nhận được sẽ thông qua chu trình học tập, nghiên cứu từ các hoạt động quan sát, phân tích để tác động vào đối tượng vật chất và buộc những đối tượng đó phải thể hiện những thuộc tính, quy luật.

Để cải tạo thế giới khách quan đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải căn cứ vào hiện thực khách quan để có thể đánh giá, xác định phương hướng biện pháp, kế hoạch mới có thể thành công.

Bên cạnh đó cần phải tránh xa những thói quen chỉ căn cứ vào nhu cầu, niềm tin mà không nghiên cứu đánh giá tình hình đối tượng vất chất.

– Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người.

Con người muốn ngày càng tài năng, xã hội ngày càng phát triển thì phải luôn chủ động, phát huy khả năng của mình và luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới. Bên cạnh đó, con người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao năng lực và không bỏ cuộc giữa chừng.

Con người tuyệt đối không được thụ động, ỷ lại trong mọi trường hợp để tránh việc sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.

Ví dụ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Ý thức có tính độc lập tương đối, tính năng động sáng tạo có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người, vì vậy cùng với việc xuất phát từ hiện thực khách quan, cần phát huy tính năng động chủ quan, tức là phát huy mặt tích cực của ý thức, hạn chế mặt tiêu cực của ý thức.

Ví dụ: Trước khi thực hiện một trận đánh chung ta làm quyết tâm thư; thực hiện tự phê bình và phê bình; rút ra các nhược điểm để tiến bộ, khắc phục những mặt tiêu cực. Thực hiện giáo dục nhận thức thông qua các phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ địa phương và đạo đức giả.

Hay, giữa vật chất và ý thức chỉ có những mặt đối lập tuyệt đối trong phạm vi nhận thức luận. Bên ngoài lĩnh vực đó, sự phân biệt là tương đối. Vì vậy một chính sách đúng đắn là cơ sở để kết hợp hai điều này.

Liên hệ bản thân với mối quan hệ vật chất và ý thức

Thứ nhất: Bản thân phải xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, vì vật chất quyết định ý thức nên con người cần phải ý thức được những vật chất của cuộc sống còn thiếu thốn để có hành động phù hợp với thực tế khách quan.

Thứ hai: Phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động hàng ngày. Kết cấu của ý thức thì tri thức là quan trọng nhất nên mỗi chúng ta cần chú trọng phát triển tri thức của bản thân.

Thứ ba: Cần phải tiếp thu có chọn lọc kiến thức mới và không chủ quan trong mọi tình huống.

Thứ tư: Khi giải thích một hiện tượng cần phải xét có yếu tố vật chất lẫn tinh thần, cả yếu tố khách quan và điều kiện khách quan.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Cảm ơn Quý khách hàng đã theo dõi bài viết.

Nguyên tắc 3 vòng bảo vệ trong quản trị rủi ro doanh nghiệp là gì?

Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức và có thể giúp tổ chức giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của…

Ngành kinh tế tài chính đang ngày càng trở nên quan trọng và có tính toàn cầu hóa. Vì vậy, cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực này rất đa dạng và hấp…

Ví dụ về cách thâm nhập thị trường quốc tế của một sản phẩm cụ thể

Thâm nhập thị trường quốc tế là quá trình một công ty hoặc một nhà kinh doanh mở rộng hoạt động của mình sang các thị trường quốc tế. Việc thâm nhập thị trường quốc tế có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hợp tác liên doanh hoặc mua lại công ty đang hoạt động trên thị trường nước…

Bảo hộ mậu dịch là gì? Ví dụ bảo hộ mậu dịch

Bảo hộ mậu dịch được áp dụng để bảo vệ sản phẩm và ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh từ sản phẩm và ngành công nghiệp của các quốc gia khác. Mục đích chính của bảo hộ mậu dịch là bảo vệ sản phẩm và ngành công nghiệp trong nước khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh từ các sản phẩm nhập…

Ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm là gì?

Cách tính tiền đáo hạn hợp đồng bảo hiểm thường được công bố trong hợp đồng và được xác định bởi công ty bảo hiểm. Phương thức tính toán tiền đáo hạn có thể khác nhau tùy thuộc vào loại hợp đồng và quy định của từng công ty bảo…

Xem thêm

Bạn đang xem bài viết: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Số tiết học môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022? Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh theo Chương trình GDTX cấp THPT?

THEO CHÂN TOMMY KHÁM PHÁ CƠ SỞ VẬT CHẤT CHUẨN 4.0 TẠI ILA
THEO CHÂN TOMMY KHÁM PHÁ CƠ SỞ VẬT CHẤT CHUẨN 4.0 TẠI ILA

Số tiết học môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022? Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh theo Chương trình GDTX cấp THPT?

  • Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh thực hiện từ lớp 10,11,12 trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022?
  • Thời lượng giảng dạy môn tiếng anh thực hiện từ lớp 10,11,12 trong Chương trình GDTX cấp THPT?
  • Các điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện giảng dạy môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT?
  • Tiêu chí đánh giá kết quả giảng dạy môn tiếng anh Chương trình GDTX cấp THPT?

Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh thực hiện từ lớp 10,11,12 trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022?

Căn cứ tiểu mục 2 Mục II Môn tiếng anh của chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT quy định các yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh thực hiện từ lớp 10,11,12 trong Chương trình GDTX cấp 3 như sau:

– Chương trình môn Tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo).

– Sau khi học xong môn Tiếng Anh cấp THPT, HV có thể đạt được trình độ tiếng Anh Bậc 3 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Cụ thể là:

+ Có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí,…

+ Có thể xử lí hầu hết các tình huống xảy ra ở những nơi ngôn ngữ đó được sử dụng. Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm. Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, ước mơ, hi vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lí do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình.

Số tiết học môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022? Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh theo Chương trình GDTX cấp THPT? (Hình từ internet)

Thời lượng giảng dạy môn tiếng anh thực hiện từ lớp 10,11,12 trong Chương trình GDTX cấp THPT?

Căn cứ tiểu mục 1 Mục V Môn tiếng anh của chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT quy định thời lượng giảng dạy môn tiếng anh như sau:

Chương trình môn Tiếng Anh được dạy từ lớp 10 đến lớp 12. Thời lượng là 105 tiết/năm học. Cụ thể như sau:

Các điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện giảng dạy môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT?

Căn cứ tiểu mục 2 Mục V Môn tiếng anh của chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT quy định để việc thực hiện Chương trình môn Tiếng Anh hiệu quả, cần bảo đảm các điều kiện cơ bản sau:

Giáo viên

– Đảm bảo đủ số lượng giáo viên để thực hiện đủ số tiết học theo kế hoạch dạy học. Giáo viên phải đạt chuẩn năng lực tiếng Anh và năng lực sư phạm phù hợp với cấp học theo quy định của Bộ GDĐT.

– Giáo viên phải đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục 2019.

– Giáo viên phải được hướng dẫn đầy đủ về nội dung và cách thức triển khai Chương trình này. Công tác bồi dưỡng năng lực cho giáo viên phải được tổ chức thường xuyên để thực hiện đúng mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá quy định trong Chương trình.

Cơ sở vật chất

– Về học liệu: Cần đảm bảo đầy đủ học liệu tối thiểu cho giáo viên và người học theo quy định của Bộ GDĐT. Học liệu bao gồm sách giáo khoa, tài liệu dạy học dưới dạng bản giấy hoặc học liệu điện tử.

– Về phòng học: Phòng học cần đảm bảo thoáng mát, đủ ánh sáng, phù hợp với từng nhóm đối tượng người học cụ thể, đáp ứng các quy định về an toàn và kỹ thuật.

– Về thiết bị dạy học: Đảm bảo các trang thiết bị tối thiểu trong một lớp học ngoại ngữ theo quy định của Bộ GDĐT; tăng cường sử dụng thiết bị ứng dụng công nghệ hỗ trợ việc dạy học của giáo viên, việc học và tự học của người học.

– Trung tâm GDTX có điều kiện cần nối mạng Internet, trang bị máy tính, màn hình và đầu chiếu, phần mềm dạy học tiếng Anh; khuyến khích sử dụng thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ việc dạy học môn tiếng Anh.

Tiêu chí đánh giá kết quả giảng dạy môn tiếng anh Chương trình GDTX cấp THPT?

Căn cứ Mục IV Môn tiếng anh của chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT quy định tiêu chí đánh giá kết quả giảng dạy môn tiếng anh Chương trình GDTX cấp 3 như sau:

– Kiểm tra, đánh giá là yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học nhằm cung cấp thông tin phản hồi về năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh mà HV đạt được trong quá trình cũng như tại thời điểm kết thúc một giai đoạn học tập.

Điều này góp phần khuyến khích và định hướng HV trong quá trình học tập, giúp giáo viên và cơ sở giáo dục đánh giá kết quả học tập của HV, qua đó điều chỉnh việc dạy học môn học một cách hiệu quả ở các cấp học.

– Việc đánh giá hoạt động học tập của HV phải bám sát mục tiêu và nội dung dạy học của Chương trình, dựa trên yêu cầu cần đạt đối với các kĩ năng giao tiếp ở từng lớp, hướng tới việc giúp HV đạt được các bậc quy định về năng lực giao tiếp khi kết thúc cấp học.

– Hoạt động kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện theo hai hình thức: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. Đánh giá thường xuyên được thực hiện liên tục thông qua các hoạt động dạy học trên lớp.

Trong quá trình dạy học, cần chú ý ưu tiên đánh giá thường xuyên nhằm giúp HV và giáo viên theo dõi tiến độ thực hiện những mục tiêu đã đề ra trong Chương trình.

Việc đánh giá định kì được thực hiện vào các thời điểm ấn định trong năm học để đánh giá mức độ đạt so với yêu cầu cần đạt đã được quy định cho mỗi cấp lớp.

– Việc đánh giá được tiến hành thông qua các hình thức khác nhau như định lượng, định tính và kết hợp giữa định lượng và định tính trong cả quá trình học tập, kết hợp đánh giá của giáo viên, đánh giá lẫn nhau của HV và tự đánh giá của HV.

Các loại hình kiểm tra, đánh giá cần phù hợp với phương pháp dạy học được áp dụng trong lớp học, bao gồm kiểm tra nói (hội thoại, độc thoại) và kiểm tra viết dưới dạng tích hợp các kĩ năng và kiến thức ngôn ngữ, kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các hình thức đánh giá khác.

Thông tư 12/2022/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 10/9/2022.


Cù Thị Bích Hiền

Quý khách cần hỏi thêm thông tin về Chương trình giáo dục thường xuyên có thể đặt câu hỏi tại đây.

  • Trong hệ thống văn bằng giáo dục đại học thì bằng kỹ sư có tương đương với bằng cử nhân hay không?
  • Sau khi kiểm kê tài sản doanh nghiệp không lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê thì sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Việc phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí của Bảo hiểm xã hội tỉnh được quy định như thế nào?
  • Mẫu Đề án tổ chức cuộc thi người đẹp, người mẫu, cuộc thi hoa hậu mới nhất hiện nay là mẫu nào?
  • Khi đưa tài sản di chuyển ra nước ngoài, công dân Việt Nam thôi cư trú có phải làm thủ tục hải quan không?

Bạn đang xem bài viết: Số tiết học môn tiếng anh trong Chương trình GDTX cấp THPT 2022? Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thành môn tiếng anh theo Chương trình GDTX cấp THPT?. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Luyện thi IELTS Tiếng Anh Tư Duy

[Ocean Edu] Cơ sở vật chất tại hệ thống Anh ngữ quốc tế Ocean Edu
[Ocean Edu] Cơ sở vật chất tại hệ thống Anh ngữ quốc tế Ocean Edu

*Nhân dịp DOL chào đón khai trương trung tâm thứ 10

Điểm & Review

Đội ngũ giáo viên

Linear-thinking

6 điểm khác biệt của DOL

1. Phương pháp Tư duy Linearthinking

2. Điểm nhanh cao, học được xài được

3. Giáo viên giỏi và có tâm

4. Nền tảng công nghệ độc quyền của DOL

5. Luôn đặt học viên lên hàng đầu

6. Cơ sở vật chất hiện đại

1. Phương pháp Tư duy Linearthinking

2. Điểm nhanh cao, học được xài được

3. Giáo viên giỏi và có tâm

4. Nền tảng công nghệ độc quyền của DOL

5. Luôn đặt học viên lên hàng đầu

6. Cơ sở vật chất hiện đại

Vương Huỳnh Khánh Hà

12/2022

HERE COMES THƯ TÌNH CỦA MÌNH TỚI DOL 💌 Sau khi ăn quả khế trả cục 8.0 IELTS đúng như lời thầy Phúc :))), bên cạnh “chìm” trong vô vàn lời chúc từ anh chị em bạn bè thầy cô (em cám ơn mọi người rất nhiều ạ, mãi iuuu😽) thì tui cũng nhận được rất nhiều câu hỏi xoay quanh việc “Ủa bà ôn IELTS ở đâu z?🤔”. Hong chần chờ suy nghĩ chi lâu, tui suggest cho mn muốn ôn IELTS thì đến DOL ngay và lun vì ở đây vừa có TÂM vừa có TẦM (tui học IELTS Online ở đây nhe) 😼🫶🏻 Điểm khác biệt ở DOL có lẽ mọi người nhận thấy được ngay từ tên FB IELTS Đình Lực – DOL English – Học viện Tiếng Anh Tư Duy. Dựa trên trải nghiệm của bản thân, tui cam đoan cụm từ ‘Tư Duy’ đó là hoàn toàn chính xác với những gì mà học viên nhận được khi đến với DOL chứ hong phải clickbait đâu👍🏻. Nhờ vào công cụ Linearthinking độc chiêu, DOL đã giúp mình và nhiều bạn học viên dễ dàng tiếp cận, nâng cao trình độ, xử lý gọn hơ không một động tác thừa cả 3 kỹ năng READING, WRITING và SPEAKING. Đặc biệt đối với một ENFJ thích sự sắp xếp và logic như mình hay đối với những bạn muốn cải thiện khả năng suy luận logic, Linearthinking cũng là một phương pháp tư duy rất hay, rất “dính” mà mình có thể áp dụng ở nhiều mảng khác ngoài việc thi IELTS. Nhưng chỉ bao nhiêu đó thì vẫn chưa đủ, mình còn muốn dành một phần dàiii hơn cầu SG dưới đây để shout out tới các thầy cô cực xịn ở bản DOL đã dẫn dắt em trong suốt chặng đường vừa qua🥹 – READING: Mở đầu khoá học với bộ môn READING, em may mắn được làm học trò của Thầy Thọ – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực (gương mặt mà em đã gặp trên Youtube và các biển quảng cáo của DOL hong biết bao nhiêu lần luôn rồi á). Từng mất rất nhiều thời gian mới có thể hoàn thành 1 test Reading vì em ko hợp cách làm skim-scan và cũng ko biết phương pháp xử lí bài đọc nào khác🥺, nhưng nhờ phương pháp học đặc biệt ở DOL cũng như cách giảng dạy cực kì chi tiết, chu đáo, tận tâm của thầy Thọ, thời gian làm bài Reading của em cải thiện và rút ngắn đáng kể, đi kèm với đó là số câu đúng cũng tăng vọt luôn1là số câu đúng tăng vọt😝 Học READING ở DOL đi mn ơi life-changing thật sự. Mn sẽ thay đổi hoàn toàn tư duy và cách tiếp cận khi bắt gặp 1 bài đọc ở mọi thể loại luôn á. Tui học tới đâu là tấm tắc khen tới đó thôi. – SPEAKING: Học Reading xong đã quá nên mới đầu thấy qua Speaking nghỉ được học thầy Thọ em cũng buồn lắm😢 Nhưng mà hong hề thất vọng, tui gặp được Thầy Phúc – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực – chiến thần Speaking, ông hoàng của những chiếc mic âm thanh trong veo, CEO of supporting students😋 Thầy dễ thương mà hài xỉu nữa trừi ưi, đã z còn dạy giỏi và hay, dạy tới đâu thấm tới đó. Vừa học thầy còn vừa chỉ cho nhiều expressions xịn xịn mà natural như bản xứ nữa, Speaking mà chêm mấy này vô cái là hú hồn liền📈. Vẫn còn xúc động lắm buổi mocktest với người thầy siêu cấp có tâm trước ngày thi. Dù hôm đó thầy bận nhiều việc và ở lại trung tâm dạy đến tối muộn chứ chưa được về nhà, nhưng hơn 11h 2 thầy trò vẫn call trên Zoom để mock test và truyền bí kíp võ công. Nhờ buổi hôm đó mà em đã được tiếp thêm tự tin, sức mạnh rất nhiều. Thêm việc vận dụng các tuyệt chiêu, cải thiện từ các góp ý của thầy, nên em mới đạt được số điểm 8.0 Speaking 😱 (which is totally beyond my wildest dreams). – WRITING: Lại được học với người nổi tiếng tiếp đâyyy. Mới biết được học Cô Quỳnh – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực cái là em Oh wow OMG liền tại vì em gặp cô trên TV với Youtube suốt luôn á🤩 Và công nhận là cô đỉnh hong chỉ vì cô đẹp mà còn là vì sự cống hiến nhiệt huyết của cô với học trò, với việc dạy học á cả nhà ơii! Bất kể thắc mắc nào liên quan tới Writing, alo cô Quỳnh 1 tiếng là cô ting ting giải pháp liền! Ai mà sợ học Writing buồn ngủ thì về với team cô Quỳnh lẹ nha =))) tại tui học 3h liền mà vẫn còn sức muốn học cô tiếp á mê lúm😆 Again, cách dạy WRITING ở DOL is on another level🤯 Em chưa bao giờ nghĩ Task 1 và cả Task 2 có thể có hướng tiếp cận đơn giản, dễ hiểu, logic, hiệu quả, dễ đạt điểm cao tới vậy cho tới khi em học ở DOL. Đó là lí do DOL được gọi là Học viện Tiếng Anh Tư Duy á, vì học xong là thay đổi tư duy theo chiều hướng tích cực và xịn xò hơn luôn. Còn nhớ có lần e tổng hợp nguyên 1 docs thật dài để hỏi cô lúc nửa đêm, hong ngờ cô vẫn còn thức và chữa kĩ càng cho em🥺 Sau khi hết khoá rồi cô vẫn luôn support hết mình mỗi khi em thỏ thẻ băn khoăn và còn bảo em nếu cần giúp gì cứ ới cô nữa💕 Thời gian lúc trước mình học ở DOL là 1 buổi 3h, 1 skill 6 buổi. Dù học Online nhưng mình tin trải nghiệm này hoàn toàn xứng đánh với giá tiền và cũng hiệu quả không kém học Offline á. Bên cạnh nghe thầy cô giảng trên lớp, mn cũng đừng quên tận dụng kho tài liệu chất lượng đầy ắp của DOL để đạt được điểm số tốt nhất nha. Các thầy cô sẽ để 1 vài tài liệu hữu ích ngay trong folder lớp học nè, nhưng mn cũng có thể tìm nhiều tài liệu và bài tests hơn trên trang web của DOL nữa. Xài web DOL Premium đã lắm cả nhà iu ơi😗 Cambridge, Trainer bla bla có đủ tests và lời giải chi tiết theo Linearthinking, đã vậy còn có báo tiếng anh hàng ngày, samples Writing Speaking band cao cập nhật liên tục. DOL cũng có trang web LMS để học viên submit bài tập hoặc review lessons (mà cách review dễ cưng lắm luôn y như Duolingo z đó =))). Nói chung là hong bao giờ hết thứ để học, chỉ quan trọng là mình có chịu học ko thui😇 Hồi đó tui cũng như bao người, cũng băn khoăn hong biết chọn chỗ này hay chỗ kia để học IELTS. Nhưng đến cuối cùng, cảm ơn tui của ngày đó đã quyết định đồng hành cùng DOL vì học ở DOL là một trong những quyết định đúng đắn nhất đó giờ của tui 💖 Xin cảm ơn DOL, cảm ơn thầy Thọ, thầy Phúc, cô Quỳnh vì đã mang tới cho em trải nghiệm học IELTS cực kì ấn tượng và đáng nhớ ạ💐 P/s: Tui ko có được trả tiền PR trung tâm hay gì đâu🥲 Toàn bộ đều là lời thật lòng mà tui muốn gửi đến DOL và các thầy cô ở DOL cũng như chia sẻ với mn về 1 sự lựa chọn địa điểm học IELTS uy tín á. Cảm ơn mọi người đã đọc đến đây và hi vọng mọi người sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời tại DOL ❤️

Xem review

Từ Ngọc Bình

12/2021

MÌNH ĐẠT 8.0 NGAY LẦN ĐẦU THI TvT Hồi tháng 4 đầu vào mình có 5.5 thuii. Ba mẹ cũng kh có định hướng cho mình đi du học nên mình chỉ học IELTS để xét tuyển ĐH. May mắn của mình là đã được đi học tiếng Anh trung tâm từ lớp 2 và chọn DOL làm nơi luyện thi. 🥰 -READING: + Chắc chắn phải làm reading theo linearthinking và cho skim & scan ra chuồng gà nhe :))) Mng must have “DOLBOOK1- Thông não IELTS Reading cùng Linear” để tự học ở nhà…

Xem review

Nguyễn Trung Kiên

12/2022

Sau bài post vừa rồi, bên cạnh những lời chúc mừng của mọi người thì mình cũng nhận được khá nhiều câu hỏi về tips thi cử, lộ trình ôn thi IELTS, LinearThinking là gì, học ở DOL như thế nào,… Sau đây, mình xin chia sẻ cụ thể hơn về các trải nghiệm trong quá trình học tiếng Anh và review chương trình học tại IELTS Đình Lực – DOL English – Học viện Tiếng Anh Tư Duy cho các bạn quan tâm đến kì thi IELTS 🤔🧐 Nói một chút về background bản thân, mình đã rất may mắn được ba mẹ đầu tư cho học thêm tiếng Anh từ tiểu học nên nền tiếng Anh cơ bản của mình khá chắc, do đó có thể tự học Anh văn ở cấp 2, cấp 3 không quá khó khăn. Trong suốt quá trình đó, mình cũng thường xuyên tiếp xúc thụ động với tiếng Anh qua phim, nhạc, Youtube, đọc tài liệu,… Việc “đắm chìm” trong tiếng Anh hàng ngày đã giúp mình phát triển khá tốt về mặt nhận diện âm khi nghe, nhận diện cấu trúc câu khi đọc và hiểu nội dung bằng tiếng Anh mà không phải dịch tất cả nội dung sang tiếng Việt. Vì thế, theo quan niệm của mình, học tiếng Anh là một quá trình tích lũy, dù không cần quá nhiều sự đầu tư vào một thời điểm nhưng cần sự kiên trì trong thời gian dài. Nếu bạn vẫn còn lạc lối trên con đường dài ấy, hay chưa biết bắt đầu từ đâu thì các thầy cô xịn xò ở DOL sẽ là những người dẫn đường mà các bạn hoàn toàn có thể đặt trọn niềm tin 👍👍👍 Ở DOL, sau khi được test đầu vào, mình được xếp vào lớp aim 7.0. Theo cảm nhận của mình, lớp này đi khá nhanh do học viên đã có nền ngữ pháp, từ vựng tương đối vững. Chương trình chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng LinearThinking trong tiếp cận và giải quyết các dạng bài sao cho hợp lý, hiệu quả. Ở phần Writing và Reading, mình may mắn được học với Thầy Thọ – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực, người mình luôn ngưỡng mộ về khả năng lập luận logic và dùng từ đỉnh cao. Trong các buổi Writing, thầy đã cung cấp cho mình cái nhìn tổng quan về outline các dạng bài cụ thể (giúp tiết kiệm thời gian lên dàn ý trong phòng thi), cách phân bổ thời gian hợp lý trong từng task, cách dùng LinearThinking để tạo idea và phát triển idea từ mọi thể loại chủ đề dù quen thuộc hay “trên trời rơi xuống”, các công cụ liên kết câu đa dạng để đạt điểm CC cao,… Thiệt sự là học xong các buổi Writing, mình đã có thể cảm thấy tự tin rằng mình có thể cân tất mọi dạng bài, kể cả cục đá hay chiếc khinh khí cầu huyền thoại 🤣🤣. Về phần Reading, LinearThinking cũng là một công cụ rất hữu dụng để tiếp cận với rất nhiều dạng bài như matching heading, gap fill,… Sau khi được thầy hướng dẫn phân tích cấu trúc câu, cấu trúc đoạn, mình đã có thể nắm bắt được ý nghĩa cả đoạn mà không cần phải đọc quá nhiều hoặc hiểu hết những từ khó. Điều này là yếu tố chính giúp mình đạt con điểm hoàn hảo phần Reading 💯 Thầy Tory – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực là người đã giúp mình đạt được con điểm ngoài mong đợi trong 2 kĩ năng còn lại. Nguồn năng lượng tích cực luôn tràn đầy và sự hài hước duyên dáng của thầy luôn giúp không khí lớp cởi mở, các bạn học viên cũng tự tin và thoải mái hơn trong việc practice 😝😝. Ở phần Speaking, mình đã được thầy hướng dẫn chi tiết về cách tiếp cận với cả 3 part, từ việc reflex với part 1 sao cho vừa nhanh vừa chính xác, chuẩn bị sườn bài part 2 cho 4 nhóm chủ đề để phát triển ý nhanh trong 1 phút đến việc ứng dụng các tools LinearThinking để phát triển logic bài nói part 3. Với phần Listening, thầy đã hướng dẫn mình các kĩ thuật để tự luyện tập Listening như crosscheck giữa audio và script, giữa đáp án và script, phát hiện các từ có pronunciation khó,… Các kĩ thuật này cũng đã giúp mình cải thiện đáng kể band điểm Listening trong thời gian ngắn. Nhìn lại hành trình vừa qua, mình nhận thấy việc học tiếng Anh nói chung và luyện thi IELTS nói riêng không phải là việc quá khó khăn, miễn là các bạn tìm được phương pháp đúng và người dẫn dắt phù hợp 😊. Xin cảm ơn anh Lê Đình Lực, thầy Thọ, thầy Tory đã cho em cơ hội trải nghiệm môi trường học tuyệt vời tại DOL và đã giúp em hiện thực hóa giấc mơ IELTS 8.0. Tại IELTS Đình Lực – DOL English – Học viện Tiếng Anh Tư Duy, nhiều chương trình học đã được thiết kế để phù hợp với nhiều cấp trình độ học viên, từ những bạn còn tự ti vì hổng kiến thức nền đến các bạn muốn bứt phá để đạt band điểm xuất sắc. Nếu các bạn vẫn đang có ý định luyện thi IELTS nhưng chưa chọn được một trung tâm uy tín thì mình highly recommend 👍 DOL English cho các bạn nhe . It’s worth every penny 👌

Xem review

Trần Công Toại

09/2022

MÌNH ĐÃ ĐẠT 800 TOEIC CHỈ VỚI 36 giờ học TẠI DOL !!! Chiếc review/feedback cho các bạn vẫn đang tìm kiếm trung tâm luyện thi Toeic xét chứng chỉ AV ở trường Đại học nhaa. Khóa học Toeic tại Dol 302 Nguyễn Văn Đậu cùng chiếc view Landmark 81 Đây cũng là lần đầu tiên mình tham gia lớp học tại một trung tâm tiếng Anh và đây hoàn toàn là một quyết định đúng đắn trong vô vàn những sai lầm của bản thân :”> Đối với mình, Dol thật sự là một môi trường rất thoải mái và thân thiệnnn. Lớp với số lượng học viên vừa đủ để giảng viên có thể cover hết tất cả mọi người (lớp mình học là 12 người). Ngoài ra, thông tin liên lạc cũng như phương thức trao đổi với giảng viên đều được cung cấp đầy đủ, thuận tiện cho các bạn có thắc mắc muốn trao đổi thêm ngoài buổi học. Mặc dù mình đăng ký giờ học khá trễ (19h30 – 21h30) nhưng với phương pháp học xịn mịn + giảng viên siêuuu lầy nên không khí lớp học lúc nào cũng thoải mái, phương pháp và bài tập áp dụng thực tế luôn làm mình tò mò mỗi đầu buổi học, kiểu cảm giác thời gian trôi nhanh cực luôn :”) Mình có nghe qua Phương pháp linear-thinking độc quyền tại Dol cho bài thi IELTS rồi; Đợt này DOL mở lớp TOEIC nên mình bấm bụng chuột bạch thử. Thiệt là không hối hận nha :”). Linearthinking nói túm lại là một phương pháp để giúp mình nhìn thấy liên kết giữa các thành phần trong 1 câu / đoạn / bài á; ngày đầu tiên đi học thầy cho mình bóc tách mấy thành phần câu ra, mình đã thấy nó hơi lạ lạ rồi :”>, nhưng mà sau đó tự nhiên thấy đọc dễ hơn hẳn nha. 1 cách tiếp cận rất là khác với xưa giờ á mọi người, nên thử ạ. Về Listening thì câu chuyện mới hơi bị lạ nè. Có ai bao giờ đi học mà ngày đầu tiên nghe thầy phán 1 câu: “với Listening, thầy không thể dạy các bạn nghe tốt hơn dc”. Ở DOL có 1 cái làm mình rất thích, đó là sự trung thực và tâm huyết. Thầy mình giải thích rất rõ cho mình vấn đề với Listening, tại sao không có khái niệm “học listening”, chỉ có khái niệm “tập listening” thôi. => Sau khi kiểu như thay đổi HOÀN TOÀN suy nghĩ của lớp rồi thầy mới đưa ra giải pháp, là 1 mớ bài homework nhiều kinh dị, ứng dụng nền tảng công nghệ trên web dol.vn. Tại đây bạn sẽ biết đến “Chép chính tả” 🙂 – nếu bạn còn lo lắng hoặc thực sự không tự tin về bài thi nghe thì đây sẽ là thứ biến bạn thành đôi tai vàng trong làng luyện Listening :”). Ở lớp, thầy không dạy cách nghe cho ra (vì cái đó ở nhà tập, thầy nói luôn: “hông muốn làm chiện rùi bu mà hông đem lại kết quả cho các bạn” :”>), mà hướng dẫn cả lớp cách nghe có tư duy hơn; nghe theo ngữ cảnh, phân tích đáp án 1 cách khoa học => giảm tải cho đầu, nghe trong trạng thái hiệu quả, nhẹ nhàng hơn. Điểm thi của mình yếu R do mùa này TOEIC như kiểu lên cơn á, đề dài khó như quỷ. Chứ L thì không còn phàn nàn gì luôn. Mở miệng kêu hông dạy được cho các bạn nghe tốt hơn được mà 1 tháng rưỡi chữa luôn bệnh điếc cho mình, gần max điểm. Hông biết cái phép thuật anchantix gì luôn á :”> 6 tuần được học với thầy @Phúc Dol đối với mình là rất đáng giá. Mình được trải nghiệm việc học tiếng Anh theo cách rất “khác”. Kinh nghiệm tự học tiếng Anh và kiến thức thầy chia sẻ thực sự hữu ích với mình, từng bước từng mục tiêu thầy đặt ra trong mỗi buổi học khiến mình có thể ôn luyện tốt hơn và hiệu quả hơn rất nhiều, không có cảm giác chới với khi không biết phải bắt đầu từ đâu và như thế nào. Mình còn có thể biết được điểm mạnh điểm yếu của bản thân sau mỗi bài tập về nhà qua feedback được phân tích từ thầy kèm theo hướng dẫn khắc phục dành riêng cho mình. Mình nghĩ đây có lẽ là điều mình cực thích khi học cùng thầy tại Dol. Hihi Thank You :”) P/s: Mọi người có đi học ở DOL nhớ rủ đồng bọn nha; chứ một mình ai mà khịa lại thầy 🙂 Thầy Phúc – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực

Xem review

Trần Thúy Ngân

11/2022

“VỎN VẸN 2 THÁNG VÀ MÌNH … CÓ THÊM MỘT GIA ĐÌNH” Nghe có vẻ nói quá nhưng đây là cảm xúc chung của mỗi thành viên ở lớp Intensive 2 của chúng mình, và chưa bao giờ lớp mình lại nghĩ mọi người lại có thể gắn bó với nhau nhiều đến như vậy. Và chắc hẳn không thể không nhắc đến hai nhân vật đã làm mưa làm gió trong 2 tháng vừa qua – Mr. Khoa và Mr. Phúc của chúng ta. Lời nói thân thương đầu tiên, em cảm ơn hai thầy rất nhiều. Một là sự hướng dẫn rất tận tâm, về mặt kiến thức ngôn ngữ và về phương pháp Linearthinking. Hai là, ” mỗi ngày đi học là một ngày vui “, các thầy luôn tạo cảm giác thoải mái cho mọi người, và luôn hỗ trợ nhiệt tình khi mọi người có câu hỏi hay thắc mắc. Cái em học được là kiến thức “thật”, không chỉ để đi thi, mà còn có thể áp dụng ở nhiều mặt khác. Mr. Khoa, cảm ơn những bài quiz của thầy mặc dù đôi khi thật sự là em quên học Collocations, nhưng mà nhờ quiz mà em cũng ghi nhớ được phần nào. Cảm ơn cả những lúc thầy ở lại sau giờ học để giảng bài thêm cho các bạn vắng. Bây giờ em đã bớt sợ Writing và Reading hơn phần nào rồi. Mr. Phúc, cảm ơn những feedback “lúc nửa đêm” rất chi tiết của thầy dành cho lớp mình. Và cảm ơn thầy vì đã phát hiện ra “cái nết 7 chấm” của em kịp thời trước khi em mang nó vào phòng thi, chứ không là ố dề rồi thầy hen. Dựa vào những điều thầy chia sẻ về kỹ năng Speaking và Listening, em sẽ cố gắng luyện tập thêm để tiến bộ hơn. Và lời nói thân thương thứ hai, là dành cho lớp mình. Cảm ơn lớp mình vì đã đồng hành với nhau trong suốt 2 tháng vừa qua. Khoảng thời gian không quá ngắn cũng không quá dài nhưng cũng đủ làm người ta cảm thấy luyến tiếc. Em xin chúc hai thầy thật nhiều sức khỏe và ngày càng thành công với sứ mệnh người lái đò của mình. IELTS Đình Lực – DOL English – Học viện Tiếng Anh Tư Duy Thầy Khoa Trần – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực Thầy Phúc – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực

Xem review

Huỳnh Viết Hoài Bắc

12/2022

Mình chỉ mún nói 1 điều rằng DOL là chân ái của mình ;3 IELTS Đình Lực – DOL English – Học viện Tiếng Anh Tư Duy . Em rấttt cảm ơn DOL English đã luôn đồng hành với em trong suốt khoảng thời gian vừa qua (●’◡’●)! Em từng là học viên của khóa 7.0+. Thời điểm đó em biết đến DOL cũng ngót nghét 2 năm rùi! Dù vậy, em chỉ thật sự tìm hiểu nhiều hơn về DOL vào đầu 2022 và phải mất 6 tháng để em quyết định rằng đây sẽ là bến đỗ của mình. Dự thi vào ngày 01/12, nhờ sự chuẩn bị kĩ càng với sự động viên khuyến khích của giáo viên và những người bạn đã giúp em từng bước đi từ band 6.5 lên đến 8.0 overall! Một band điểm cao ngoài mong đợi của bản thân em 🙆♀️ Thầy Donny – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực Lúc mới gặp bữa đầu tiên thì ấn tượng của em là “Ai mà bự con zz!”, hỏi ra em mới biết là thầy dạy Speaking kiêm Listening của mình 😓 Thầy có phát âm chuẩn lớm, giọng trầm, vang, accent dễ nghe và nghe rất…đã!! Mặc dù em là 1 đứa rất ngại nói và thường bí idea trước khi biết đến “Linear thinking”, thế nhưng công cụ này về sau đã giúp em hệ thống lại tư duy của bản thân và hạn chế việc nghĩ gì nói đó như trước! Em được dạy nên suy nghĩ có liên kết, trình bày vấn đề có nguyên nhân – kết quả và đa chiều hướng hơn. Lượng từ vựng thầy gợi ý trong 1 buổi dạy từ vựng là rất KHÓ TIN, vừa nhiều mà vừa hay xĩu. Phương pháp DOL đưa ra cho Listening rất hay và hiệu quả, từ việc classify vocab lạ lạ trong bài theo mức độ nhận biết, từ chưa biết đến biết rồi hay biết mà vẫn phát âm sai, làm cho nghe không ra thông tin. Em luôn được dặn là giải bao nhiêu đề không quan trọng bằng việc chiêm nghiệm ra được những thiếu sót gì của bản thân sau bộ đề ;3 Cô Phương Uyên – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực CÔ UYÊN SIÊU DỄ THƯƠNG AAAA ☆*: .。. o(≧▽≦)o .。.:*☆ Cô cân tất các vấn đề Writing của học trò. Cô vừa dễ gần, vừa tự tin mà truyền tải vừa ngắn gọn, logic dễ hiểu. Cô tận tình chu đáo lắm lun! Mỗi khi đến thời gian luyện tập làm ví dụ ở lớp là cô luôn đi lại chỉnh sửa lỗi sai và hỗ trợ học trò khi có gì khó khăn. Cô sửa bài Writing online đúng nghĩa là tận răng luôn ấy ạ @@ Bản thân em lại là đứa khá cẩu thả trong ngữ pháp nên những ngày đầu bị sửa te tua. Từng lỗi liên kết câu, lỗi logic, ngữ pháp đều được cô highlight, ghi chú và suggest thêm vô vàn cách sửa. Em cảm thấy cô rất kiên nhẫn với nhiều quá chừng thắc mắc của em luôn í! Cô còn dặn đám học trò là nếu mà có ngại hỏi tại lớp thì cứ nhiệt tình nhắn qua messenger cho cô. Vì tính hay ngại nên dĩ nhiên 80% em…liên lạc qua mes với cô :”>. Ngay cả khi kết thúc khóa học cả 3 tháng trời cô vẫn hỗ trợ em rất rất rất nhiệt tình luôn. Em hỏi quá chừng từ chuyện “word pattern này đúng chưa ạ”, “collocation này có tồn tại hông cô”, “chỗ này ngôn ngữ mình dùng sao để nói về phần trăm của biểu đồ này ạ”, “cô thí idea này của em được hônggg”…Số lần em nhắn cho cô đến giờ chắc dưới 20 lần :”>. Cho đến tận ngày thi cô vẫn dành thời gian để căn dặn em về kinh nghiệm xử lý đề thi và giữ bình tĩnh. Linear thinking trong Writing giúp em luôn bám theo 1 vấn đề đến cuối cùng tránh lạc đề và bàn xa. Sau khi đưa ra luận điểm thì sẽ tiếp theo nên có explanation, sau đó có thể viết hypothesis giả định cho những điều trái lại rồi đưa ra ảnh hưởng của nó…để tăng sức thuyết phục thì đưa ra example trong thực tế sau cùng. Nhờ những nỗ lực dặn dò học trò cẩn thận mà cô đã giúp em tăng đến 1.5 band Writing Thầy Nhật – DOL English – Anh Ngữ Đình Lực Dù chỉ gặp thầy tầm 4 – 5 tuần thôi nhưng em đã tốt Reading lên nhiều đáng kể. Thầy nchuyen dễ thương và có phần hơi vui tính mặc dù bằng một cách vô tình 😸. Thầy còn là dân FTU nữa í!! Tạm biệt DOL sau một thời gian gắn bó! Thái Hòa cảm ơn anh đã hỗ trợ dẫn dắt em trước cũng như sau khi thi :00. Những trải nghiệm của mình ở đây là xức xắc nên mình chắc chắn muốn recommend các bạn Học viện DOL English nhé! Giờ DOL có nhiều cơ sở lắm rồi nên tha hồ chọn địa điểm nhen ❣️

Xem review

Báo chí nói gì về DOL

Truyền hình HTV vừa vinh danh DOL là đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng tư duy toán học và tự phát triển nền tảng công nghệ để làm việc học IELTS của học viên trở nên logic,dễ dàng, thú vị hơn …

Cô Như Quỳnh, giáo viên tại DOL, lên giảng cách làm dạng Matching Heading trong IELTS Reading trên VTVT7, và mở ra một cách học Reading Tư Duy và hoàn toàn mới cho các bạn học viên. Linearthinking của DOL khác với các phương pháp scan, skim, hay đọc dịch truyền thống.

Từ những ấp ủ về phương pháp dạy, học tiếng Anh theo tư duy tuyến tính năm 2008, Lực sáng tạo ra phương pháp Linearthinking và dần hoàn thiện. Phương pháp này được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) cấp bằng công nhận sau 2 năm xét duyệt. Những lý thuyết toán học như rút gọn phân số, phép toán vector, phép tính lũy thừa là tiền đề cho sự logic của phương pháp. “Nó có thể ứng dụng để giải quyết 3 vấn đề cố hữu khi học tiếng Anh của người Việt như tư duy chung chung, đọc dịch từng cụm rồi ghép lại thành câu, giữ thói quen dùng trong nói, viết tiếng Việt (như ghép các từ có nghĩa thành câu) để sử dụng sang tiếng Anh”

Bạn đang xem bài viết: Luyện thi IELTS Tiếng Anh Tư Duy. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Tìm hiểu về cơ sở vật chất của trung tâm Anh ngữ Language Alive

English vocabulary about School and school facilities. – Chủ đề từ vựng về trường và cơ sở vật chất.
English vocabulary about School and school facilities. – Chủ đề từ vựng về trường và cơ sở vật chất.

Với khát khao thay đổi cách học truyền thống. Tại Language Alive, học viên sẽ được đào tạo theo những phương pháp hoàn toàn mới. Bên cạnh đó trung tâm cũng cố gắng trang bị cơ sở vật chất một cách tốt nhất để phục vụ cho công tác học và dạy hiệu quả hơn.

Chương trình “VÌ 1 TRIỆU NGƯỜI VIỆT TỰ TIN GIAO TIẾP TIẾNG ANH”. Edu2Review phối hợp cùng Trung tâm Anh ngữ Language Alive tặng bạn Voucher khuyến học trị giá 500.000đ, Nhận ngay Voucher

Edu2Review1. Thông tin liên hệ, cơ sở vật chất

Địa chỉ liên hệ: 20 Phan Liêm, phường Đa Kao, quận Bình Thạnh, TPHCM.

Trung tâm luôn mong muốn mang lại môi trường học tập chuyên nghiệp cho quý học viên. Phòng học được trang bị các trang thiết bị thiết yếu như máy chiếu, hệ thống loa, bảng trắng, … Ngoài ra lớp học còn được gắn máy điều hòa để tạo không khí thoáng mát, không gây khó chịu, nóng bức cho học viên.

Những tiết học thú vị tại trung tâm Anh ngữ Language Alive

>> Xem thêm đánh giá của học viên về Trung tâm Anh ngữ Alive Languge

Language Alive luôn sử dụng những giáo trình mới nhất của Oxford với những tài liệu cập nhật từ Youtube, VOA, Ted talks, …

Edu2Review2. Phương pháp giảng dạy

Dựa vào nền tảng mục tiêu ban đầu mà trung tâm Language Alive hướng tới là vứt bỏ cách học tiếng Anh truyền thống. Trung tâm cố gắng tạo ra môi trường học tập vui vẻ, thân thiện. Tất cả những gì bạn cần làm ở trung tâm là nghe, nói, chơi và thể hiện mình cùng tiếng Anh.

Lớp học lúc nào cũng tạo được hứng thú và không khí vui vẻ

>>Top 10 Trung Tâm Anh ngữ dạy giao tiếp tốt nhất tại TP. HCM

Đến với trung tâm bạn sẽ được luyện tập những topic về công việc và thực tế hằng ngày. Hơn thế, bạn còn xây dựng được sự tự tin khi nói chuyện trực tiếp với người nước ngoài. Trung tâm luôn luôn bên cạnh hỗ trợ mỗi cá nhân nên bạn không cần phải lo bản thân bị tụt lại phía sau so với mọi người.

Trung tâm Anh ngữ Language Alive luôn mong muốn mang lại một cơ sở vật chất tốt phục vụ tối đa cho công tác giảng dạy cũng như học tập của học viên. Nếu bạn đang tìm hiểu về các trung tâm tiếng Anh, hãy tìm hiểu thêm về trung tâm Anh ngữ Language Alive để có sự lựa chọn phù hợp nhé!

Lý Trâm tổng hợp

Bạn đang xem bài viết: Tìm hiểu về cơ sở vật chất của trung tâm Anh ngữ Language Alive. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Cơ sở vật chất kĩ thuật (Material and technical basis) trong kinh doanh khách sạn là gì?

Cơ sở vật chất Khoa Khoa Học CHÍNH TRỊ USSH.VNU ENGLISH
Cơ sở vật chất Khoa Khoa Học CHÍNH TRỊ USSH.VNU ENGLISH

Cơ sở vật chất kĩ thuật (Material and technical basis) trong kinh doanh khách sạn là gì?

clarabridge_hotel_blog_image

Hình minh họa. Nguồn: clarabridge

Cơ sở vật chất kĩ thuật

Khái niệm

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong tiếng Anh là material and technical basis.

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn là toàn bộ những tư liệu lao động dùng để “sản xuất” và bán các dịch vụ và hàng hóa của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống và các nhu cầu bổ sung khác của khách phát sinh trong thời gian lưu lại tại điểm đến (có thể là một địa phương hay một quốc gia phát triển du lịch).

Một cách cụ thể hơn theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn là toàn bộ các công trình và phương tiện vật chất của các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch được khai thác sử dụng vào hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch tại một địa phương hoặc một quốc gia.

Cơ sở vật chất kĩ thuật của cơ sở lưu trú du lịch bao gồm các công trình bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, tòa nhà, các trang thiết bị tiện nghi, máy móc, các phương tiện vận chuyển, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống bưu chính viễn thông và các vật dụng khác do doanh nghiệp tự đầu tư cho mục đích kinh doanh các dịch vụ lưu trú, ăn uống và bổ sung của mình cung cấp cho khách du lịch.

Đặc điểm của cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn có mối quan hệ mật thiết và chịu sự phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại nơi xây dựng, góp phần làm tăng giá trị, sức hấp dẫn cũng như khả năng khai thác triệt để và toàn diện tài nguyên du lịch tại các trung tâm du lịch.

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn đòi hỏi tính đồng bộ cao trong thiết kế, bố trí lắp đặt và khai thác sử dụng. Yêu cầu về tính đồng bộ của cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn phải được các nhà quản trị khách sạn tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn có giá trị của một đơn vị sử dụng cao. Giá trị của một đơn vị sử dụng trong kinh doanh khách sạn được hiểu là mức đầu tư tính bình quân cho một buồng lưu trú để đảm bảo cho việc sử dụng và khai thác sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của nó được thực hiện và vận hành một cách hiệu quả.

Chất lượng của cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn quyết định chất lượng của dịch vụ lưu trú. Cơ sở vật chất kĩ thuật trong kinh doanh khách sạn là một bộ phận cấu thành của dịch vụ lưu trú – sản phẩm mang tính “phi vật chất” của các cơ sở lưu trú du lịch.

(Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn, NXB Đại học Kinh tế quốc dân)

Bạn đang xem bài viết: Cơ sở vật chất kĩ thuật (Material and technical basis) trong kinh doanh khách sạn là gì?. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Di truyền học – Wikipedia tiếng Việt

Từ vựng cơ sở vật chất khách sạn – Hotel facilities |Tiếng Anh Chuyên Ngành|Hướng Nghiệp Á Âu
Từ vựng cơ sở vật chất khách sạn – Hotel facilities |Tiếng Anh Chuyên Ngành|Hướng Nghiệp Á Âu

Di truyền học

Đây là một trong loạt bài về
Hóa sinh
Các nét quan trọng
Lịch sử và chủ đề
Thuật ngữ
Lĩnh vực: Sinh học, Sinh học phân tử, tế bào

Di truyền học là một bộ môn sinh học, nghiên cứu về tính di truyền và biến dị ở các sinh vật.[1][2] Tiền sử, thực tế về việc các sinh vật sống thừa hưởng những đặc tính từ bố mẹ đã được ứng dụng để tăng sản lượng cây trồng và vật nuôi, thông qua quá trình sinh sản chọn lọc hay chọn lọc nhân tạo. Tuy nhiên, di truyền học hiện đại, tìm hiểu về quá trình di truyền, chỉ được ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 19 với những công trình của Gregor Mendel[3]. Dù không hiểu về nền tảng vật chất của tính di truyền, Mendel vẫn nhận biết được rằng sinh vật thừa kế những tính trạng theo một cách riêng rẽ – và tiên đoán đơn vị cơ bản của quá trinh di truyền là nhân tố di truyền mà nay gọi là gen.

Mỗi gen là một đoạn xác định của phân tử DNA, một cao phân tử sinh học được cấu thành từ bốn loại đơn phân nucleotide; chuỗi nucleotide này mang thông tin di truyền ở sinh vật. DNA trong điều kiện tự nhiên có dạng chuỗi xoắn kép, trong đó nucleotide ở mỗi chuỗi liên kết bổ sung với nhau. Mỗi chuỗi lại có thể hoạt động như một khuôn để tổng hợp một chuỗi bổ sung mới – đó là cách thức tự nhiên tạo nên những bản sao của gen mà có thể được di truyền lại cho đời sau. Chuỗi nucleotide trong gen có thể được phiên mã và dịch mã trong tế bào để tạo nên chuỗi các amino acid, gọi là pôlypeptit, từ đó hình thành protein là cơ sở vật chất trực tiếp hình thành nên tính trạng (đặc điểm) của sinh vật. Trình tự của các amino acid trong pôlypeptit của một protein tương ứng với trình tự của các nucleotide trong gen. Trình tự này được biết với tên mã di truyền. Trình tự của các nucleotide xác định không chỉ xác định trình tự các amino acid trong protein bậc I, mà từ đó còn xác định cấu trúc bậc cao hơn là protein bậc II và protein bậc III và bậc IV (nếu là đa protein) gọi là cấu trúc ba chiều của phân tử protein 3D. Bậc cấu trúc 3D này mới giúp protein có chức năng sinh học trong tế bào sống.

Protein thực hiện hầu hết các chức năng thiết yếu trong mọi hoạt động sống của tế bào. Một thay đổi nhỏ của gen thường dẫn đến thay đổi trình tự amino acid, do đó dẫn đến thay đổi cấu trúc và chức năng của protein, thường gây ra đột biến có thể tác động không nhỏ lên tế bào cũng như toàn bộ cơ thể sống. Tuy gen đóng một vai trò to lớn trong sự hình thành tính trạng và mọi hoạt động của sinh vật, nhưng tác động của môi trường bên ngoài và cả những gì sinh vật đã trải qua cũng có vai trò rất quan trọng, thậm chí tạo ra kết quả sau cùng của biểu hiện tính trạng. Chẳng hạn, nhiều gen cùng quy định chiều cao của một người, nhưng chế độ dinh dưỡng, luyện tập của người đó cũng có ảnh hưởng không nhỏ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học di truyền được khởi đầu với công trình ứng dụng và lý thuyết của Mendel về sinh học di truyền từ giữa thế kỷ 19, tuy nhiên trước đó vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về di truyền. Từ thế kỷ V trước Công nguyên, Hippocrates và Aristoteles đã lần lượt đưa ra những lý thuyết của riêng mình, mà đã có ảnh hưởng không nhỏ đến các học thuyết khác sau đó. Nếu Hippocrates cho rằng các vật liệu sinh sản (“humor”) được thu thập từ tất cả các phần của cơ thể và truyền cho thế hệ con, thì Aristoteles lại phản bác lại ý kiến này, nêu ra rằng sự sinh sản bắt nguồn từ chất dinh dưỡng, trên con đường đi tới các bộ phận cơ thể thì bị chệch tới phần sinh sản, và bản chất các chất này vốn đã quy định cho cấu tạo các phần cơ thể khác nhau[6][7]. Ở thời kỳ Mendel sống, một thuyết phổ biến là quan niệm về di truyền hòa hợp (blending): cho rằng các cá thể thừa kế từ bố mẹ một hỗn hợp pha trộn các tính trạng, ví dụ như lai cây hoa đỏ với hoa trắng sẽ cho ra hoa hồng[7]. Nghiên cứu của Mendel đã bác bỏ điều này, chỉ ra tính trạng là sự kết hợp các gen độc lập với nhau hơn là một hỗn hợp liên tục. Một thuyết khác cũng nhận sự ủng hộ thời đó là sự di truyền các tính trạng tập nhiễm: tin rằng sinh vật thừa kế những tính trạng đã được biến đổi do quá trình luyện tập và nhiễm ở bố mẹ. Học thuyết này, chủ yếu gắn với Jean-Baptiste Lamarck, hiện nay không được di truyền học hiện đại thừa nhận[8]; khi sự tập nhiễm của cá thể thực tế không ảnh hưởng đến các gen mà chúng truyền cho con cái[9]. Bên cạnh đó, Charles Darwin đề ra thuyết pangen (thuyết mầm, pangenesis), có sự tương đồng với quan niệm của Hippocrates, cho rằng có các gemmule (mầm), tập trung từ các tế bào trong cơ thể về cơ quan sinh dục để thụ tinh, và con cái sinh ra chịu ảnh hưởng từ cả di truyền lẫn tính trạng tập nhiễm. Thí nghiệm của Francis Galton kiểm chứng thuyết pangen của Darwin, cho thấy rằng các gemmule ít nhất không xuất hiện trong máu thỏ[10]. Đến tận cuối thế kỷ 19, ngay cả sau khi tác phẩm của Mendel đã công bố, hiểu biết của giới khoa học về tính di truyền vẫn còn ít ỏi và chưa thực sự đúng đắn[11].

Di truyền học Mendel và cổ điển[sửa | sửa mã nguồn]

Gregor Johann Mendel, một linh mục người Áo sống tại Brno (Séc; tên tiếng Đức là Brünn), đã tiến hành thí nghiệm về tính di truyền ở 7 tính trạng trên cây đậu Hà Lan từ năm 1856 đến 1863. Các nghiên cứu của ông sau đó được công bố trong bài báo “Versuche über Pflanzenhybriden” (Các thí nghiệm lai ở thực vật) tại Hội Lịch sử Tự nhiên của Brno năm 1865[12]. Cách nghiên cứu của ông là cho nhân giống theo từng tính trạng, sử dụng toán học để đánh giá số lượng và từ đó rút ra quy luật di truyền[13]. Dù các quy luật này chỉ quan sát được cho số ít tính trạng, nhưng Mendel vẫn tin rằng sự di truyền là riêng rẽ, không phải tập nhiễm, và tính di truyền của nhiều tính trạng có thể được diễn giải thông qua các quy luật và tỷ lệ đơn giản.

Tầm quan trọng của công trình Mendel không được nhận biết rộng rãi cho tới năm 1900, tức sau khi ông mất; trong năm đó, cả ba nhà khoa học Hugo de Vries (Hà Lan), Erich von Tschermak (Áo) và Carl Correns (Đức) đã nghiên cứu độc lập với nhau và cùng tái phát hiện các quy luật Mendel[14]. Năm 1900 đánh dấu một mốc khởi đầu mới cho sự phát triển của di truyền học. Năm 1905, William Bateson, một người ủng hộ Mendel, đã đặt ra thuật ngữ genetics (di truyền học).[15][16] (Tính từ genetic, xuất phát từ tiếng Hy Lạp, genesis – γένεσις, “nguồn gốc” và từ genno γεννώ, “sinh ra”, có trước danh từ này và được sử dụng lần đầu trong sinh học từ năm 1860)[17]. Bateson đã phổ biến cách dùng của từ genetics để miêu tả ngành khoa học nghiên cứu về di truyền trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Quốc tế lần thứ ba về lai giống cây trồng tại London, Anh năm 1906[18]. Riêng thuật ngữ gen, vốn đã được Hugo de Vries định nghĩa với tên gọi pangen từ năm 1889 là: “phần tử nhỏ nhất [đại diện cho] một đặc điểm di truyền”[19], được Wilhelm Johannsen giới thiệu lại trong các tác phẩm của ông vào hai thập niên sau đó – trong đó ông cũng nêu ra thuật ngữ kiểu gen (genotype) và kiểu hình (phenotype)[20][21].

Sau sự tái phát hiện công trình của Mendel, các nhà khoa học đã cố gắng xác định những phân tử nào trong tế bào đảm nhận tính di truyền. Trước đó, nhiễm sắc thể đã được phát hiện, và những quan điểm đầu tiên về di truyền nhiễm sắc thể đã được đưa ra[22], phải kể đến là thuyết di truyền nhiễm sắc thể của August Weismann năm 1892[23] và giả thuyết gắn các nhân tố Mendel với nhiễm sắc thể của Walter Sutton năm 1903[24]. Năm 1910, Thomas Hunt Morgan khẳng định rằng gen nằm trên nhiễm sắc thể, dựa trên sự quan sát về đột biến mắt trắng ở ruồi giấm[25]. Năm 1913, một sinh viên của ông, Alfred Sturtevant đã sử dụng hiện tượng di truyền liên kết để chỉ ra rằng gen được sắp đặt theo đường thẳng (tuyến tính) trên nhiễm sắc thể, và xây dựng nên bản đồ liên kết gen đầu tiên[26].

Di truyền học phân tử[sửa | sửa mã nguồn]

Dù sự tồn tại của gen trên nhiễm sắc thể – hợp thành từ protein và DNA – đã được xác nhận, tuy nhiên người ta vẫn chưa biết đến cái gì trong hai chất đó đóng vai trò di truyền. Năm 1928, Frederick Griffith khám phá ra hiện tượng biến nạp: những vi khuẩn đã chết có thể chuyển vật liệu di truyền của chúng để làm biến đổi những vi khuẩn còn sống khác[27]. Năm 1944, Oswald Theodore Avery, Colin McLeod và Maclyn McCarty đã thực hiện thí nghiệm trực tiếp xác định DNA là phân tử đảm nhận biến nạp[28]. Tuy nhiên, đến tận năm 1952, thí nghiệm Hershey–Chase mới cho thấy DNA (chứ không phải protein) là vật liệu di truyền của virus xâm nhiễm vi khuẩn, cung cấp thêm bằng chứng chứng tỏ DNA là phân tử đảm nhận chức năng di truyền[29].

James D. Watson và Francis Crick cho ra đời mô hình cấu trúc DNA năm 1953, sử dụng công trình tinh thể học tia X của Rosalind Franklin, chứng tỏ rằng DNA có cấu trúc xoắn kép[30][31]. Mô hình DNA của họ bao gồm hai chuỗi với những nucleotide phía trong, mỗi một nucleotide liên kết bổ sung với một nucleotide ở chuỗi khác tạo thành hình dạng giống như thanh ngang trên một chiếc thang xoắn[32]. Cấu trúc này chỉ ra rằng thông tin di truyền tồn tại trên dãy nucleotide ở mỗi chuỗi DNA, và cũng đưa ra gợi ý về một cách thức nhân đôi đơn giản: nếu chuỗi kép bị tách rời, chuỗi bổ sung mới có thể được tái dựng lại từ mỗi chuỗi đơn cũ.

Dù cấu trúc DNA cho thấy được cách thức di truyền, người ta vẫn chưa biết rõ ràng về cách mà DNA ảnh hưởng lên hoạt động của tế bào. Trước đấy, năm 1941, George Wells Beadle và Edward Lawrie Tatum đã đề ra thuyết “một gen-một enzym”, chứng minh vai trò điều khiển và điều hòa của gen lên các phản ứng sinh hóa ở mốc bánh mỳ Neurospora[33][34], đồng thời phương pháp của họ – ứng dụng di truyền học vào sinh hóa ở vi sinh vật – cũng mở ra một phạm vi nghiên cứu mới ngay sau đó[35]. Trong những năm sau đó, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra cách DNA điều khiển quá trình tổng hợp protein. Họ đã khám phá được rằng tế bào đã sử dụng DNA như một khuôn để tạo nên phân tử RNA thông tin tương ứng. Dãy nucleotide trên RNA thông tin lại tiếp tục được sử dụng để tạo nên dãy amino acid ở protein; trình tự của dãy nucleotide được dịch mã để tạo thành dãy amino acid được gọi là mã di truyền. Nó được dựa trên sự sắp xếp những bộ ba base nitơ không chồng lấn nhau, gọi là codon, mỗi codon mã hóa cho một amino acid. Điều này lần đầu tiên được miêu tả trong thí nghiệm của Crick, Brenner và các cộng sự năm 1961[36]. Trong những năm 1961-1966 đã ghi nhận kết quả nỗ lực của các nhà khoa học để giải mã được toàn bộ 64 codon, chủ yếu là những công trình do nhóm của M. Nirenberg (thí nghiệm Nirenberg và Matthaei) và nhóm của H. Khorana thực hiện.

Những hiểu biết mới tầm phân tử về tính di truyền đã tạo nên sự bùng nổ trong nghiên cứu. Một bước phát triển quan trọng là phương pháp xác định trình tự DNA gián đoạn chuỗi năm 1977 của Frederick Sanger: công nghệ này cho phép các nhà khoa học đọc được trình tự nucleotide trên một phân tử DNA[37]. Năm 1983, Kary Banks Mullis phát triển phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR), cung cấp một phương pháp nhanh chóng để phân lập và khuếch đại một đoạn DNA riêng biệt từ một hỗn hợp[38]. Những cố gắng chung trong Dự án Bản đồ gen Người và nỗ lực song song của công ty tư nhân Celera Genomics, cũng như các công nghệ khác, cuối cùng đã thành công trong việc xác định trình tự bộ gen người vào năm 2003[39].

Đặc trưng của di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Di truyền riêng rẽ và quy luật Mendel[sửa | sửa mã nguồn]

Ở cấp độ cơ bản nhất, tính di truyền của các sinh vật xuất hiện ở các tính trạng riêng rẽ, được gọi là gen[40]. Đặc tính này lần đầu được nhận biết bởi Gregor Mendel, khi nghiên cứu sự phân ly các tính trạng di truyền ở đậu Hà Lan[13][41]. Trong thí nghiệm nghiên cứu về tính trạng màu hoa của mình, Mendel quan sát được rằng hoa của mỗi cây đậu Hà Lan có màu tía hoặc trắng – và không bao giờ có tính trạng trung gian giữa hai màu. Những dạng khác nhau, riêng biệt của cùng một gen được gọi là allele.

Ở đậu Hà Lan, mỗi gen của mỗi cá thể có hai allele, và cây đậu sẽ thừa hưởng một allele từ mỗi cây bố mẹ. Nhiều sinh vật khác, bao gồm cả con người, cũng có kiểu di truyền như vậy. Cá thể mà có hai allele giống nhau ở một gen được gọi là đồng hợp tử ở gen đấy, còn nếu có hai allele khác nhau thì cá thể gọi là dị hợp tử.

Tập hợp tất cả allele ở một cá thể được gọi là kiểu gen của cá thể đó, còn tập hợp các tính trạng quan sát được của cá thể được gọi là kiểu hình. Với những cá thể dị hợp tử ở một gen, thường sẽ có một allele được gọi là trội, bởi đặc tính của nó trội hơn và thể hiện ra kiểu hình ở sinh vật, và allele còn lại được gọi là lặn, bởi đặc tính của nó bị lấn át và không được biểu hiện ra. Một số allele không lấn át hẳn, thay vì thế có tính trội không hoàn toàn tức thể hiện ra kiểu hình trung gian, hoặc đồng trội, tức cả hai allele đều được biểu hiện cùng lúc[42].

Nhìn chung, khi một cặp cá thể sinh sản hữu tính, con cái của chúng sẽ thừa kế ngẫu nhiên một allele từ bố và một allele từ mẹ. Những phát hiện về sự di truyền riêng rẽ và sự phân ly của các allele được phát biểu chung với tên gọi Quy luật thứ nhất của Mendel hay “Quy luật phân ly”.

Ký hiệu và biểu đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà di truyền học sử dụng các biểu đồ và biểu tượng để mô tả sự di truyền. Một gen được biểu trưng bởi một (hay vài) ký tự — trong đó ký tự viết hoa tượng trưng cho allele trội và ký tự viết thường tượng trưng cho allele lặn[43]. Thông thường biểu tượng “+” được sử dụng để biểu thị allele thường, không đột biến ở một gen.

Ở các thí nghiệm lai và thụ tinh (đặc biệt về các quy luật Mendel), bố mẹ được xem là thế hệ “P”, con cái của chúng được gọi là thế hệ “F1” (“first filial”). Khi các cá thể F1 giao phối với nhau, con của F1 lại tiếp tục gọi là “F2”. Một trong những biểu đồ thường được sử dụng để dự đoán kết quả lai là bảng Punnett (do Reginald Punnett sáng tạo).

Khi nghiên cứu về các bệnh di truyền ở người, các nhà di truyền học thường dùng sơ đồ phả hệ để diễn tả sự di truyền ở các tính trạng[44]. Các sơ đồ này sẽ sắp xếp sự di truyền của một tính trạng trên một cây phả hệ.

Tương tác của nhiều gen[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi sinh vật có hàng ngàn gen và ở các sinh vật sinh sản hữu tính, sự phân ly các gen này nhìn chung độc lập với nhau. Điều này có nghĩa là sự di truyền của một allele tính trạng hạt đậu vàng hay xanh không có liên quan tới sự di truyền của cặp allele màu hoa trắng hoặc tía. Hiện tượng này, được biết đến là Quy luật thứ hai của Mendel hay “Quy luật phân ly độc lập”, mang ý nghĩa: các allele của những gen khác nhau sẽ thay đổi ngẫu nhiên khi phân ly từ bố mẹ và sẽ tạo ra thế hệ con với nhiều tổ hợp gen khác nhau. Dù thế, một số gen lại không phân ly độc lập với nhau, biểu thị tính liên kết gen.

Thực tế, các gen khác nhau lại có thể tương tác với nhau theo một cách nào đấy và ảnh hưởng lên một tính trạng chung. Một ví dụ là ở loài hoa Omphalodes verna, tồn tại một gen với hai allele xác định tính trạng màu hoa: xanh lam hoặc đỏ tía. Một gen khác điều khiển khả năng có màu của hoa: có màu hoặc không màu (màu trắng). Khi một cây có hai allele hoa trắng, hoa của cây đấy luôn màu trắng – cho dù gen đầu tiên có allele hoa đỏ hay xanh. Sự tương tác được gọi là tương tác át chế (epistasis), khi gen thứ hai át chế sự biểu hiện của gen thứ nhất[45]. Bên cạnh tương tác át chế còn có kiểu tương tác bổ trợ, nghĩa là sự biểu hiện của hai hay nhiều allele ở các gen khác nhau sẽ tạo kiểu hình mới, khác với kiểu hình riêng được biểu hiện khi có mặt các allele ở từng gen riêng lẻ[46].

Có nhiều tính trạng không riêng rẽ (ví dụ hoa màu trắng/tía) mà thay vì thế lại biểu hiện liên tục (ví dụ chiều cao và màu da). Các tính trạng phức hợp này được tạo bởi tác động cộng gộp của nhiều gen[47]. Sự chi phối của các gen này là tương đương, có vai trò biến đổi mức độ biểu hiện, bên cạnh điều kiện môi trường của sinh vật. Tỷ lệ mà các gen của sinh vật đóng góp cho một tính trạng phức hợp được gọi là mức di truyền (heritability)[48]. Số đo của mức di truyền chỉ là tương đối – khi môi trường càng dễ biến đổi sẽ càng tác động lớn hơn lên toàn bộ mức thay đổi của tính trạng. Một ví dụ, chiều cao của con người là một tính trạng phức hợp với mức di truyền là 89% tại Mỹ. Ở Nigeria, nơi người dân có điều kiện dinh dưỡng và y tế hay thay đổi hơn, chiều cao của họ có mức di truyền chỉ là 62%[49].

Cơ sở phân tử của tính di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

DNA và nhiễm sắc thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bản chất gen là chuỗi xoắn kép axít deoxyribonucleic (DNA hay DNA), trong đó mỗi mạch đơn cấu thành từ một chuỗi các nucleotide từ bốn loại chính: adenine (A), cytosine (C), guanine (G) và thymine (T). Thông tin di truyền tồn tại dưới dạng trình tự sắp xếp liên tục các nucleotide, theo nguyên tắc bộ ba mã di truyền [50]. Một số loài virus lại có bộ gen bản chất là một mạch RNA (RNA) làm vật liệu di truyền là ngoại lệ.[51]
  • DNA bình thường là một phân tử chuỗi kép, cuộn với nhau tạo thành dạng xoắn kép. Mỗi nucleotide ở DNA liên kết một cách chọn lọc với nucleotide đối diện: A chỉ liên kết với T, G chỉ liên kết với C. Nguyên tắc liên kết này gọi là nguyên tắc bổ sung. Nhờ đó, dù có dạng chuỗi kép, nhưng mỗi chuỗi đơn thực tế vẫn chứa tất cả các thông tin cần thiết. Cấu trúc theo nguyên tắc này của DNA chính là cơ sở vật lý và sinh hoá của tính di truyền: quá trình sao chép DNA nhân đôi thông tin di truyền bằng cách chia tách hai chuỗi của DNA, sử dụng mỗi chuỗi như một khuôn để tổng hợp một chuỗi bổ sung mới[52].
  • Các gen được sắp xếp theo chiều dọc trên chuỗi dài DNA, nằm trên một bào quan gọi là nhiễm sắc thể. Ở vi khuẩn, mỗi tế bào vi khuẩn chỉ có một nhiễm sắc thể là phân tử DNA kép vòng nằm ở vùng nhân của nó. Còn ở các sinh vật nhân chuẩn lại có nhiều nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể là một phân tử DNA xoắn kép nhưng khôngh vòng như ở vi khuẩn, mà ở dạng tuyến tính. Chuỗi DNA của nhân thực thường rất dài so với tế bào chứa nó. Chẳng hạn, nhiễm sắc thể lớn nhất của con người có độ dài khoảng 247 triệu cặp base (bp)[53] và nếu tất cả DNA của 1 tế bào người có 23 cặp nhiễm sắc thể mà “nối đuôi” nhau lại, sẽ được chuỗi dài hơn 2 m (hai mét) trong tế bào chứa chúng có đường kính nhỏ hơn nhiều triệu lần (1 micromet).
  • Trong nhiễm sắc thể nhân thực, DNA luôn kết hợp với nhiều loại protein, chủ yếu là nhóm histôn, cấu trúc xoắn nhiều bậc tạo thành một loại chất gọi là sợi nhiễm sắc (chromatin). Ở sinh vật nhân thực, chromatin là một chuỗi nucleosome (thể nhân), bao gồm chuỗi DNA quấn quanh 8 phân tử histon làm lõi.[54] Tập hợp toàn bộ vật chất di truyền của một sinh vật (kể cả gen ở tất cả các nhiễm sắc thể lẫn gen ngoài nhiễm sắc thể) gọi chung là bộ gen (genome).

  • Các vi khuẩn (nhân sơ) thường là đơn bội (mức bội thể bằng 1) chỉ có duy nhất một mỗi nhiễm sắc thể. Còn tuyệt đại các sinh vật khác có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (mức bội thể bằng 2), trong đó mỗi nhiễm sắc thể có một nhiễm sắc thể khác giống nó về hình dạng, kích thước và trình tự lô-cut gen giống nó, tạo thành cặp nhiễm sắc thể tương đồng, do đó có hai bản sao cho mỗi gen: 1 nhận từ bố, còn 1 nhận từ mẹ [55]. Các alen (allele) của cùng một gen nằm trên vị trí như nhau gọi là locus.
  • Ở các loài có nhiễm sắc thể giới tính, thì cặp nhiễm sắc thể giới tính (kí hiệu là X và Y, hoặc W và Z) giữ vai trò xác định giới tính của mỗi cá thể[56]. Đối với cặp nhiễm sắc thể giới tính này, thì lúc tương đồng (như X với X), lúc không tương đồng (như X với Y), do nhiễm sắc thể Y/Z rất ngắn và có rất ít gen. Sự biến đổi bất thường về số lượng nhiễm sắc thể giới tính luôn dẫn tới những rối loạn về giới tính và về di truyền, gây bệnh khác thường.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Khi tế bào phân chia, toàn thể bộ gen đều được sao chép và mỗi tế bào con đều nhận được một bản sao bộ gen của tế bào mẹ. Quá trình này gọi là nguyên phân, là dạng đơn giản nhất của sinh sản và là cơ sở của sự sinh sản vô tính. Sinh sản vô tính có thể xuất hiện ở cả các sinh vật đa bào, tạo ra thế hệ con thừa hưởng bộ gen từ chỉ duy nhất một cá thể mẹ. Thế hệ con mà nhìn chung giống hệt như mẹ được gọi là dòng vô tính (clone).

Sinh vật nhân chuẩn thường sinh sản hữu tính để tạo ra con cái có vật liệu di truyền lấy từ hai bộ gen khác nhau của cả hai cá thể bố mẹ. Quá trình sinh sản hữu tính luân phiên nhau giữa hai dạng đơn bội (1n) và lưỡng bội (2n)[56]. Các tế bào đơn bội kết hợp vật chất di truyền của chúng, tạo ra tế bào lưỡng bội với những nhiễm sắc thể ghép cặp. Các sinh vật lưỡng bội tạo ra thể đơn bội bằng cách phân chia, tạo ra tế bào con thừa kế ngẫu nhiên một nhiễm sắc thể trong mỗi cặp nhiễm sắc thể tương đồng. Đa phần động vật và nhiều thực vật ở thể lưỡng bội trong hầu hết vòng đời, với thể đơn bội biến đổi thành các giao tử đơn bào. Một quá trình chủ yếu trong sinh sản hữu tính là giảm phân, quá trình phân bào chuyên biệt diễn ra ở tế bào sinh dục, trong đó bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội được nhân đôi, trải qua hai lần phân bào để tạo nên các tế bào con đơn bội có số lượng nhiễm sắc thể giảm đi một nửa so với tế bào mẹ ban đầu[57].

Dù không sử dụng cơ chế sinh sản hữu tính kiểu lưỡng bội/đơn bội như trên, vi khuẩn vẫn có nhiều cách để thu nhận thông tin di truyền. Một số vi khuẩn có khả năng tiếp hợp, chuyển một vòng nhỏ DNA tới một vi khuẩn khác[58]. Vi khuẩn cũng có thể lấy những đoạn DNA thô từ môi trường và kết hợp chúng vào trong bộ gen của vi khuẩn, hiện tượng này được biết đến là sự biến nạp[59]. Quá trình này có thể dẫn đến sự chuyển gen ngang, truyền những đoạn thông tin di truyền giữa những sinh vật không có mối liên hệ với nhau.

Tái tổ hợp và liên kết gen[sửa | sửa mã nguồn]

Trạng thái lưỡng bội tự nhiên của bộ nhiễm sắc thể cho phép gen nằm trên các nhiễm sắc thể khác nhau phân ly độc lập với nhau trong quá trình sinh sản hữu tính, tái tổ hợp tạo tổ hợp gen mới. Gen trên cùng một nhiễm sắc thể về lý thuyết không bao giờ tái tổ hợp[60], tuy nhiên, thực tế vẫn diễn ra do xuất hiện quá trình trao đổi chéo nhiễm sắc thể. Khi trao đổi chéo, hai nhiễm sắc thể trao đổi các đoạn DNA cho nhau, và đổi chỗ các allele giữa hai nhiễm sắc thể[61]. Trao đổi chéo thông thường diễn ra vào kỳ trước I (kỳ đầu của lần phân chia đầu) của quá trình giảm phân.

Xác suất trao đổi chéo giữa hai điểm đã cho trên nhiễm sắc thể có liên quan đến khoảng cách giữa chúng. Ở một khoảng cách dài tùy ý, xác suất trao đổi chéo đủ cao để sự di truyền các gen diễn ra tương đối riêng rẽ. Tuy nhiên, với các gen gần nhau hơn, xác suất trao đổi chéo thấp chứng tỏ các gen có tính liên kết di truyền – allele của hai gen này có khuynh hướng di truyền gắn liền với nhau. Các chỉ số về tính liên kết của chuỗi nhiều gen có thể được kết hợp tạo nên một bản đồ liên kết, giúp xác định gần đúng vị trí sắp xếp các gen trên nhiễm sắc thể[62].

Biểu hiện gen[sửa | sửa mã nguồn]

Mã di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Gen nhìn chung biểu hiện tác động của chúng thông qua việc tổng hợp protein, những phân tử phức hợp đảm nhận hầu hết chức năng trong tế bào. Protein là một chuỗi các amino acid; trình tự DNA của một gen, thông qua trung gian RNA thông tin (mRNA), được sử dụng để tạo nên trình tự phân tử protein riêng biệt. Quá trình này khởi đầu với việc tổng hợp một phân tử mRNA với trình tự tương ứng trình tự DNA của gen giai đoạn này gọi là phiên mã.

Phân tử mRNA sau đó lại được sử dụng như một khuôn để tạo thành trình tự amino acid tương ứng thông qua một quá trình gọi là dịch mã. Mỗi bộ ba nucleotide (codon) ở dãy này tương ứng với một trong 20 loại amino acid có mặt trong protein – sự tương ứng này gọi là mã di truyền[63]. Dòng thông tin đi theo một hướng duy nhất: thông tin khi được truyền từ chuỗi nucleotide tới chuỗi amino acid của protein, nó không bao giờ được truyền ngược lại từ protein tới chuỗi DNA – hiện tượng này được Francis Crick gọi là “luận thuyết trung tâm của sinh học phân tử”[64].

Trình tự đặc hiệu của amino acid dẫn đến cấu trúc ba chiều độc nhất của protein, và điều này lại liên quan đến chức năng của protein[65][66]. Một số protein là những phân tử có cấu trúc đơn giản, ví dụ như collagen tạo nên các sợi mô. Protein cũng có thể gắn kết với nhau và với những phân tử đơn giản khác, nhiều khi hoạt động như những enzym xúc tác cho phản ứng hóa học của các phân tử gắn kết với nó (các phản ứng không làm thay đổi cấu trúc của bản thân protein). Cấu trúc của protein có tính động, ví dụ hemoglobin có thể chuyển đổi thành các dạng khác biệt đôi chút mỗi khi protein này thu nhận, vận chuyển và giải phóng oxy trong máu động vật có vú.

Chỉ một thay đổi nucleotide trong DNA cũng có thể gây biến đổi trình tự amino acid trong protein. Bởi cấu trúc protein là kết quả của trình tự amino acid, nên những thay đổi trình tự có thể làm thay đổi đột ngột các đặc tính của protein, do sự mất ổn định cấu trúc hay biến đổi bề mặt protein là nguyên nhân dẫn tới thay đổi về tính tương tác của nó với những protein và phân tử khác. Một ví dụ, bệnh thiếu máu hồng cầu liềm là một bệnh di truyền ở người, gây ra do khác biệt một base trong vùng mã hóa phần β-globin của hemoglobin, khiến một amino acid ở protein này cũng biến đổi theo và làm thay đổi đặc tính vật lý của hemoglobin[67]. Những hemoglobin này kết hợp với nhau, làm biến đổi hình dạng tế bào hồng cầu; các tế bào hồng cầu hình liềm không còn di chuyển dễ dàng trong mạch máu, chúng có xu hướng tắc nghẽn và thoái hóa, gây nên những vấn đề sức khỏe gắn liền với bệnh này.

Một vài gen được phiên mã tạo RNA, nhưng RNA lại không tiếp tục dịch mã thành sản phẩm protein – được gọi chung là RNA không mã hóa (non-coding RNA). Trong một số trường hợp, RNA không mã hóa lại gập uốn hình thành những cấu trúc, tham gia các chức năng then chốt của tế bào (ví dụ RNA ribosome và RNA vận chuyển). RNA cũng có thể có tác động điều hòa thông qua tương tác lai với những phân tử RNA khác (ví dụ microRNA).

Kiểu gen, kiểu hình và môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Dù các gen chứa đựng mọi thông tin một sinh vật cần để thực hiện chức năng, môi trường vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kiểu hình sau cùng— tính lưỡng phân trên được nói đến trong cụm từ “bản chất đối chọi môi trường” (nature vs. nurture). Kiểu hình của các sinh vật phụ thuộc vào sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường. Một ví dụ cho kết luận này là trường hợp đột biến mẫn cảm với nhiệt độ. Thông thường, một amino acid đơn lẻ thay đổi trong chuỗi protein không làm thay đổi hoạt động và tương tác của nó với các phân tử khác, tuy nhiên điều này lại làm mất ổn định cấu trúc. Trong môi trường nhiệt độ cao, các phân tử chuyển động nhanh hơn và va chạm vào nhau, kết quả protein không còn giữ được cấu trúc và mất đi chức năng. Ở môi trường nhiệt độ thấp, cấu trúc protein lại ổn định và thực hiện chức năng bình thường. Loại đột biến này có thể quan sát thấy ở màu lông những con mèo Xiêm, khi một đột biến xảy ra ở enzym phụ trách sản xuất sắc tố, khiến enzym mất ổn định và mất chức năng ở nhiệt độ cao[68]. Protein này sẽ duy trì chức năng ở những vùng da lạnh hơn – như chân, tai, đuôi và mặt – làm cho giống mèo này vẫn có phần lông màu đen ở những vùng nói trên.

Một ví dụ khác là ảnh hưởng sâu sắc của môi trường lên bệnh di truyền phenylketon niệu ở người[69]. Đột biến tạo nên chứng bệnh này, phá hoại khả năng phân giải amino acid phenylalanine, tích tụ các chất trung gian gây độc, tiếp đó gây nên những tác động rất xấu lên thần kinh. Nếu một người bị mắc đột biến phenylketon niệu đi theo một chế độ ăn uống nghiêm ngặt tránh xa loại amino acid này, anh ta vẫn duy trì được tình trạng bình thường và khỏe mạnh.

Điều hòa gen[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ gen của một sinh vật bao gồm hàng nghìn gen, nhưng không phải bất cứ gen nào cũng cần được hoạt động tại mọi thời điểm. Một gen chỉ có thể được biểu hiện khi nó được phiên mã thành mRNA (và dịch mã thành protein); thực tế tồn tại nhiều cách thức trong tế bào để điều khiển sự biểu hiện của gen, đảm bảo cho protein nào được sản xuất chỉ khi tế bào cần. Các nhân tố phiên mã là những protein điều hòa được gắn vào điểm khởi đầu của gen, có vai trò hoạt hóa hay ức chế sự phiên mã của gen đó[70]. Ví dụ, trong bộ gen của vi khuẩn E. coli có một dãy nhiều gen cần thiết cho việc tổng hợp amino acid tryptophan. Tuy nhiên, khi tryptophan đã sẵn có trong tế bào, những gen tổng hợp trytophan sẽ không được duy trì hoạt động. Sự có mặt của trytophan trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của những gen này – những phân tử trytophan liên kết với chất ức chế trytophan (trp repressor – một nhân tố phiên mã), thay đổi cấu trúc của phân tử này giúp nó gắn được vào gen. Trytophan repressor ngăn chặn quá trình phiên mã và sự biểu hiện của các gen tổng hợp trytophan, do đó tạo nên sự điều hòa liên hệ ngược âm tính của quá trình tổng hợp loại amino acid này[71].

Những khác biệt trong biểu hiện gen đặc biệt rõ ràng ở các sinh vật đa bào, khi các tế bào cùng có chung bộ gen nhưng lại có cấu trúc và hoạt động rất khác nhau, dựa trên sự biểu hiện của các tập hợp gen khác nhau. Tất cả tế bào trong một cơ thể đa bào đều có nguồn gốc từ một tế bào duy nhất, được biệt hóa thành các dạng tế bào khác nhau khi phản ứng lại các tín hiệu ngoại và gian bào, và dần dần kiến lập các phương thức biểu hiện gen khác nhau để thực hiện các hoạt động khác nhau. Bởi không có một gen riêng lẻ nào chịu trách nhiệm cho sự phát triển các cấu trúc bên trong sinh vật đa bào, nên những phương thức biển hiện trên đều phát sinh từ những tương tác phức tạp giữa nhiều tế bào.

Ở sinh vật nhân chuẩn, tồn tại những đặc tính cấu trúc của chromatin có ảnh hưởng đến sự phiên mã của gen, thường ở dạng thường biến (modification) trên DNA hay chromatin mà vẫn được di truyền ổn định sang các tế bào con[72]. Những đặc tính này được gọi là “ngoại di truyền” (epigenetic) bởi chúng xuất hiện ở ngoài phạm vi trình tự DNA và vẫn được duy trì từ tế bào này sang thế hệ kế tiếp. Bởi có những đặc tính ngoại di truyền, các dạng tế bào khác nhau sinh trưởng trong cùng một môi trường có thể giữ lại những đặc điểm riêng biệt của chúng. Dù các đặc tính ngoại di truyền nhìn chung mang tính động trong tiến trình phát triển và không được giữ lại ở thế hệ sau của thế hệ kế tiếp, nhưng một số, như hiện tượng cận đột biến (paramutation), vẫn được di truyền qua nhiều thế hệ và tồn tại như những ngoại lệ hiếm hoi nằm ngoài quy luật chung của DNA (được xem như cơ sở căn bản của tính di truyền)[73].

Biến đổi di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Đột biến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình tự nhân đôi DNA, những sai sót đôi lúc diễn ra khi tổng hợp chuỗi thứ hai. Những lỗi này, gọi là đột biến, có thể có tác động lên kiểu hình của cá thể, đặc biệt nếu chúng xảy ra tại phần mã hóa protein của một gen. Tỷ lệ sai sót thường rất thấp – 1 lỗi trong 10-100 triệu base – nhờ khả năng “đọc sửa” của DNA polymerase[74][75] (Nếu không được đọc sửa, tỷ lệ lỗi sẽ cao hơn hàng nghìn lần, bởi nhiều virus dựa vào DNA hay RNA polymerase thiếu khả năng đọc sửa, làm tăng tỷ lệ đột biến lên cao). Quá trình làm tăng tỷ lệ biến đổi ở DNA được gọi là “gây đột biến” (mutagenic): các hóa chất gây đột biến đẩy mạnh làm tăng sai sót trong tái bản DNA, gây nhiễu loạn kết cấu của sự ghép cặp base; trong khi tia UV tạo ra đột biến bằng cách gây tổn hại cấu trúc DNA[76]. Các tổn thương về hóa học ở DNA cũng có thể diễn ra một cách tự nhiên, và tế bào sử dụng cơ chế sửa chữa DNA để sửa lại các ghép đôi không cân xứng hay đứt gãy ở DNA – tuy nhiên việc sửa chữa này thỉnh thoảng vẫn thất bại và không thể đưa DNA trở lại chuỗi ban đầu.

Với những sinh vật sử dụng trao đổi chéo nhiễm sắc thể để trao đổi DNA và tái tổ hợp gen, những sai sót khi bắt cặp thẳng hàng ở giảm phân cũng có thể tạo ra đột biến[77]. Lỗi trong trao đổi chéo đặc biệt xảy ra khi những phần giống nhau trên các nhiễm sắc thể khiến chúng bắt cặp nhầm lẫn, làm một số vùng của bộ gen bị đột biến. Những lỗi này tạo nên sự thay đổi cấu trúc lớn trong nhiễm sắc thể và trình tự DNA – dẫn đến sự lặp đoạn, đảo đoạn hay mất đoạn của tất cả các vùng trên, hoặc sự hoán đổi ngẫu nhiên các đoạn giữa các nhiễm sắc thể khác nhau (được gọi là chuyển đoạn).

Chọn lọc tự nhiên và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đột biến tạo nên các cá thể với kiểu gen khác nhau, và những khác biệt này dẫn tới những kiểu hình khác nhau. Nhiều đột biến có tác động không lớn lên kiểu hình, sức khỏe và sự thích ứng sinh sản của sinh vật. Tác động của đột biến thường là có hại, nhưng đôi khi lại trở nên có ích. Những nghiên cứu trên ruồi giấm Drosophila melanogaster cho thấy nếu một đột biến thay đổi một protein mã hóa bởi một gen, điều này hầu như sẽ gây tác hại: 70% trong những đột biến này là có hại, số còn lại là trung tính hoặc có lợi nhưng rất thấp[78].

Di truyền học quần thể nghiên cứu về sự phân bố những khác biệt di truyền trong các quần thể và những thay đổi của sự phân bố đó theo thời gian[79]. Thay đổi về tần số một allele trong quần thể có thể là do ảnh hưởng của chọn lọc tự nhiên, khi tỷ lệ những cá thể mang một allele nào đấy sống sót và sinh sản được cao hơn khiến allele này xuất hiện nhiều hơn trong quần thể qua thời gian[80]. Sự biến động di truyền (genetic drift) cũng có thể diễn ra, khi những sự kiện bất chợt làm biến đổi ngẫu nhiên tần số allele[81].

Trải qua nhiều thế hệ, bộ gen của các sinh vật có thể thay đổi, dẫn đến hiện tượng tiến hóa. Đột biến và chọn lọc các đột biến có lợi giúp các loài tiến hóa và tồn tại tốt hơn trong môi trường của chúng, quá trình này gọi là thích nghi[82]. Những loài mới được tạo thành thông qua quá trình hình thành loài, quá trình thường có nguyên nhân từ cách biệt địa lý dẫn đến những quần thể khác nhau trở nên cách ly về di truyền[83]. Việc ứng dụng các nguyên lý di truyền vào nghiên cứu sinh học quần thể và tiến hóa được xem là thuyết tiến hóa tổng hợp hiện đại.

Khi các trình tự được cách ly và biến đổi trong quá trình tiến hóa, những khác biệt giữa các trình tự có thể được dùng như một đồng hồ phân tử để tính khoảng cách tiến hóa giữa chúng[84]. Những so sánh di truyền nhìn chung được xem như cách thức đúng đắn nhất để mô tả mối liên hệ giữa các loài – một tiến bộ so với việc so sánh các đặc tính kiểu hình vốn dễ nhầm lẫn trước đây. Khoảng cách tiến hóa giữa các loài có thể được kết hợp tạo thành cây tiến hóa – những cây này miêu tả nguồn gốc chung và sự phân hướng của các loài qua thời gian, dù chúng không thể hiện được sự chuyển giao vật liệu di truyền giữa các loài không liên quan với nhau (được biết đến là sự chuyển gen ngang và chủ yếu phổ biến ở vi khuẩn).

Nghiên cứu và công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh vật mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Dù các nhà di truyền học ban đầu nghiên cứu tính di truyền ở đa dạng các loài sinh vật, nhưng sau đó họ bắt đầu nghiên cứu tập trung tính di truyền ở nhóm những sinh vật đặc biệt. Thực tế, những nghiên cứu quan trọng ở một sinh vật nhất định sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu kế tiếp lựa chọn sinh vật đó để phát triển nghiên cứu xa hơn, và như thế cuối cùng chỉ có một số ít sinh vật mẫu đã trở thành cơ sở cho hầu hết các nghiên cứu về di truyền[85]. Các đề tài nghiên cứu di truyền phổ biến trên các sinh vật mẫu gồm có nghiên cứu về điều hòa gen, mối liên quan giữa gen với sự phát triển hình thái và ung thư.

Các sinh vật được lựa chọn, một phần bởi tính thuận tiện: có vòng đời ngắn và dễ dàng thao tác di truyền. Những sinh vật mẫu được sử dụng rộng rãi bao gồm: vi khuẩn đường ruột Escherichia coli, cải Arabidopsis thaliana, men bánh mỳ Saccharomyces cerevisiae, giun tròn Caenorhabditis elegans, ruồi giấm (Drosophila melanogaster) và chuột nhà (Mus musculus).

Di truyền y học[sửa | sửa mã nguồn]

Di truyền y học tìm hiểu xem biến đổi di truyền liên hệ tới sức khỏe và bệnh tật của con người như thế nào[86]. Khi tìm kiếm một gen chưa biết mà có thể liên quan tới một căn bệnh, các nhà nghiên cứu thường sử dụng liên kết gen và sơ đồ phả hệ di truyền để tìm ra vị trí của nó trong bộ gen. Ở cấp độ quần thể, các nhà nghiên cứu lợi dụng sự ngẫu nhiên hóa Mendel (Mendelian randomization) để tìm ra những vị trí trong bộ gen mà liên đới với căn bệnh, một kỹ thuật đặc biệt hữu ích với những tính trạng đa gen không được xác định rõ ràng bởi một gen đơn lẻ[87]. Khi một gen tương ứng được tìm ra, những nghiên cứu xa hơn sẽ tiếp tục thực hiện với cùng gen đó (được gọi là các gen trực giao) trên những sinh vật mẫu. Bên cạnh nghiên cứu các bệnh di truyền, việc tăng tính hữu hiệu của các kỹ thuật kiểu gen đã đưa đến lĩnh vực di truyền học dược lý—nghiên cứu làm sao kiểu gen có thể tác động lên các phản ứng thuốc.[88]

Dù không di truyền được, ung thư vẫn được công nhận là một căn bệnh di truyền[89]. Quá trình phát triển ung thư của một cơ thể là sự kết hợp của nhiều sự kiện. Các đột biến thỉnh thoảng diễn ra trong các tế bào của cơ thể khi chúng phân chia. Trong khi những đột biến này sẽ không di truyền được sang thế hệ sau, chúng lại có thể tác động lên hoạt động của các tế bào, có khi khiến tế bào phát triển và phân chia nhanh hơn. Có những cơ chế sinh học cố gắng ngăn chặn quá trình này; những tín hiệu được chuyển đi tới những tế bào phân chia không thích hợp và khởi động quá trình apoptosis (tế bào chết theo chương trình). Tuy vậy, đôi lúc những đột biến thêm tiếp tục diễn ra làm tế bào không nhận được các tín hiệu. Một quá trình chọn lọc tự nhiên xảy ra bên trong cơ thể, và rốt cuộc, đột biến tích lũy trong các tế bào làm đẩy mạnh sự phát triển của chúng, tạo ra khối u ung thư, tiếp tục phát triển và xâm chiếm các mô khác nhau trong cơ thể sinh vật.

Kỹ thuật di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

DNA có thể được thao tác trong phòng thí nghiệm. Các enzym cắt giới hạn là loại enzym thường được sử dụng để cắt DNA thành những chuỗi riêng biệt, tạo ra những đoạn DNA có thể định trước được[90]. Việc sử dụng các enzym gắn cho phép các đoạn này nối lại với nhau, và nối các đoạn DNA từ các nguồn khác nhau; nhờ thế các nhà nghiên cứu có thể tạo ra DNA tái tổ hợp. Thường gắn liền với các sinh vật biến đổi gen, DNA tái tổ hợp thông thường được tạo nên từ các plasmid – những đoạn DNA vòng ngắn chứa đựng một vài gen. Bằng cách chèn plasmid vào vi khuẩn và nuôi các vi khuẩn này trên đĩa thạch agar (để phân lập các dòng tế bào vi khuẩn), những nhà nghiên cứu có thể khuếch đại vô tính các đoạn DNA đã chèn (quá trình được biết đến là tách dòng phân tử).

DNA cũng có thể được khuếch đại nhờ sử dụng một kỹ thuật gọi là phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR).[91] Sử dụng những chuỗi DNA ngắn đặc hiệu, PCR có thể phân lập và khuếch đại theo hàm mũ một vùng DNA đã xác định. Bởi khả năng phóng đại kể cả những đoạn cực nhỏ của DNA, PCR thường xuyên được sử dụng để phát hiện sự có mặt của những trình tự DNA cụ thể.

Xác định trình tự DNA và hệ gen học[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong những kỹ thuật chủ yếu được phát triển để nghiên cứu di truyền học, “xác định trình tự DNA” (DNA sequencing) cho phép các nhà nghiên cứu xác định trình tự nucleotide trên một đoạn DNA. Phát triển năm 1977 bởi Frederick Sanger và các cộng sự, phương pháp xác định trình tự gián đoạn chuỗi hiện nay là phương pháp được sử dụng thường lệ[92]. Với kỹ thuật này, các nhà khoa học có thể nghiên cứu được những trình tự phân tử liên quan tới nhiều bệnh di truyền ở người.

Khi xác định trình tự đã trở nên đỡ tốn kém hơn, cùng với sự trợ giúp của các công cụ tính toán, những nhà nghiên cứu đã xác định được bộ gen của nhiều sinh vật bằng cách liên kết trình tự của nhiều đoạn khác nhau (quá trình này gọi là “lắp ráp bộ gen” – genome assembly)[93]. Những kỹ thuật trên được sử dụng để xác định bộ gen người, đã được hoàn thiện trong Dự án bản đồ gen người vào năm 2003[39]. Những kỹ thuật xác định trình tự cao năng (high-throughput) mới đột ngột làm giảm chi phí xác định trình tự DNA, đem tới hy vọng mới cho nhiều nhà nghiên cứu rằng có thể thực hiện được việc này với giá thành chỉ còn 1000 đô la Mỹ[94].

Thành tựu giải trình tự DNA ngày càng nhiều, kết hợp với các nhu cầu khác của y học, dân tộc học v.v đã thúc đẩy sự hình thành nên hệ gen học (genomics) – một khoa học liên ngành nghiên cứu về tất cả các gen của bộ gen trong cơ thể, sử dụng các công cụ tính toán để tìm kiếm và phân tích các mô hình trong bộ gen đầy đủ của sinh vật. Hệ gen học có ứng dụng và liên quan nhiều đến tin sinh học, là một bộ môn sử dụng máy tính cùng những thuật toán khác để tập hợp các dữ liệu sinh học cũng như mô phỏng các quá trình sinh học.

Một vài vấn đề xã hội liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều vấn đề về di truyền học liên quan đến xã hội, đang được bàn cãi.

Sự di truyền trí thông minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh loài người có mang tính di truyền hay không là một vấn đề được tranh cãi và nghiên cứu kể từ khi di truyền học ra đời cho đến nay và có thể còn tiếp tục kéo dài. Đa số các học giả đồng ý rằng tính di truyền có ảnh hưởng nhất định đến sự thông minh, tuy nhiên ở mức độ nào thì vẫn còn nhiều tranh luận. Sự phức tạp của vấn đề tăng lên khi một số độc giả đưa thêm yếu tố chủng tộc vào. Một số học giả đánh giá di truyền trí thông minh qua chỉ số thông minh (IQ), một số khác cho rằng vấn đề phức tạp hơn nhiều, không thể chỉ đơn thuần căn cứ vào IQ.[95] Thêm vào đó một số người lại cho rằng trí thông minh được di truyền theo mẹ.

Ưu sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ ưu sinh học (eugenics) được nêu ra lần đầu vào năm 1893, với mục tiêu phát triển lĩnh vực “cải thiện giống người”. Tuy vậy, sau khi bị Đức Quốc xã lợi dụng vào những năm 1920-1930, ưu sinh học đã không được nhắc tới trong thời gian dài. Người ta phân ra hai hình thức của ưu sinh học:

  • Ưu sinh học âm: mục tiêu là giảm tần số các gen xấu. Chẳng hạn như có một số nước cấm những người mắc bệnh di truyền không được sinh con.
  • Ưu sinh học dương: mục tiêu là tăng tần số các gen tốt. Chẳng hạn như ở Mỹ hằng năm có khoảng 5.000-10.000 trẻ em được sinh ra từ tinh trùng của những người cha được chọn lọc.

Hiện nay, một số người cho rằng có thể dùng liệu pháp gen để cải tạo loài người, nhưng chỉ nên tác động ở tế bào soma. Việc cải tạo con người hay tạo ra những con người siêu việt vấp phải một số vấn đề đạo đức và nhân chủng học.[96]

Đạo đức sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển của ngành sinh học nói chung và di truyền học nói riêng đã tạo ra không ít vấn đề về đạo đức sinh học. Một số nhà khoa học đã đề nghị tiến hành trưng cầu dân ý để cấm việc nghiên cứu về di truyền học. Một số khác thì đề nghị cần có những luật lệ rõ ràng để bảo vệ bộ gen người, phù hợp với các quy chuẩn đạo đức của con người. Nhiều vấn đề tâm lý xã hội nảy sinh khi biết rõ bộ gen một người nào đó: nếu họ là những người bình thường nhưng có mang gen bệnh thì vấn đề hôn nhân, sinh đẻ hay xin việc làm của họ sẽ như thế nào.

Sau khi thí nghiệm về nhân bản người được tiến hành tại Mỹ năm 1993, một số nước thuộc Cộng đồng châu Âu đã đưa ra các luật lệ cấm các thí nghiệm dạng này. Một số nhà bảo vệ môi sinh kịch liệt phản đối việc nhân bản người và sinh vật bằng các kỹ thuật di truyền.[97]

UNESCO đã lập ra Ủy ban quốc tế về Đạo đức sinh học nhằm thu nhập các ý kiến xây dựng nên các luật lệ về đạo đức sinh học liên quan đến bộ gen người.

Sinh vật biến đổi di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật di truyền tạo ra các sinh vật biến đổi về mặt di truyền (GMO) đã khiến nhiều người quan ngại: liệu các sinh vật này có lấn át, ảnh hưởng xấu tới các dạng sinh vật tự nhiên khác hay tạo ra các dạng bệnh mới do tái tổ hợp với các dạng tự nhiên? Liệu các gen của các sinh vật biến đổi di truyền có gây nguy hiểm cho cơ thể con người hay không? Liệu các thực vật kháng chất diệt cỏ chẳng hạn có khả năng chuyển gen cho cỏ dại hay không. v.v. Trước các lo ngại này, nhiều nước đã xây dựng luật lệ chặt chẽ để kiểm soát các sinh vật GMO.[98]

Khoa học hình sự[sửa | sửa mã nguồn]

Do mọi mô trong cơ thể đều chứa cấu trúc DNA nguyên vẹn của một cá thể nên khoa học pháp y có thể dựa vào các mẫu sinh học tìm thấy ở hiện trường để xây dựng được hồ sơ di truyền học của cơ thể đó, từ đó giúp xác định thủ phạm hay loại bỏ nghi can vô tội trong một vụ án. Ngoài ra, các phép phân tích di truyền cũng cho phép khẳng định hay loại trừ một nghi vấn về quan hệ huyết thống nào đó, chẳng hạn như trong trường hợp xác định cha mẹ của một đứa trẻ bị thất lạc.[99]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Griffiths (2000), Chapter 1 (Genetics and the Organism): Introduction. Truy cập 22 tháng 1 năm 2009.
  2. ^ Phạm Thành Hổ, tr. 6.
  3. ^ Weiling F (1991). “Historical study: Johann Gregor Mendel 1822–1884”. American Journal of Medical Genetics. 40 (1): 1–25, discussion 26. doi:10.1002/ajmg.1320400103. PMID 1887835.
  4. ^ Henig, Robin M. (2000). The Monk in the Garden: The Lost and Found Genius of Gregor Mendel, the Father of Genetics. Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 0618127410.
  5. ^ Dye, Frank (2000). Human Life Before Birth. CRC Press. tr. 23–25. ISBN 9057026082.
  6. ^ “Mendelism”. Đại học Saskatchewan. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009.
  7. ^ a b Phạm Thành Hổ (2004), tr. 10.
  8. ^ Clifford, David (ngày 14 tháng 9 năm 2004). “Jean-Baptiste Lamarck (1744-1829)”. The Victorian Web. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009.
  9. ^ Eva Jablonka & Lamb., Marion J. “Why Lamarck Won’t Go Away: Epigenetic Inheritance and Evolution: The Lamarckian Dimension”. Annals of Human Genetics. 60 (1): 81–84. doi:10.1111/j.1469-1809.1996.tb01176.x.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  10. ^ Bulmer, Michael (2003). Francis Galton: Pioneer of Heredity and Biometry. Johns Hopkins University Press. tr. 116–118. ISBN 0-8018-7403-3.
  11. ^ Phạm Thành Hổ (2004), tr. 11.
  12. ^ Jay, Venita (2001). “Gregor Johann Mendel”. Archives of Pathology and Laboratory Medicine. 125 (3): 320–321. PMID 11231475. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009.
  13. ^ a b Mendel, GJ (1866). “Versuche über Pflanzen-Hybriden”. Verhandlungen des naturforschenden Vereins Brünn. 4: 3–47. (xuất bản tiếng Anh năm 1901, J. R. Hortic. Soc. 26: 1–32). Bản tiếng Anh trực tuyến truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009.
  14. ^ Magner, Lois N. (2002). A History of the Life Sciences. CRC Press. tr. 387-390. ISBN 0824708245.
  15. ^ genetics, n., Oxford English Dictionary, 3rd ed.
  16. ^ Bateson, William. “Letter from William Bateson to Alan Sedgwick in 1905”. The John Innes Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2008. Lưu ý lá thư này gửi cho Adam Sedgwick, nhà động vật học ở Cao đẳng Trinity, Cambridge, không phải “Alan”, và cũng không phải là nhà địa chất học nổi tiếng người Anh Adam Sedgwick đã mất trước đó.
  17. ^ genetic, adj., Oxford English Dictionary, 3rd ed.
  18. ^ Bateson, W. (1907). “The Progress of Genetic Research”. Trong Wilks, W (biên tập). Report of the Third 1906 International Conference on Genetics: Hybridization (the cross-breeding of genera or species), the cross-breeding of varieties, and general plant breeding. London: Royal Horticultural Society.
  19. ^ Vries, H. de (1910) [1889]. Intracellular Pangenesis. Charles Stuart Gager. Chicago: Open Court Pub. Co. tr. 7, 40. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009.
  20. ^ Johannsen, Wilhelm L. (1903). “Om arvelighed i samfund og i rene linier”. Oversigt over det Kongelige Danske Videnskabernes Selskabs Forhandlinger. 3: 247–270.
  21. ^ Johannsen, Wilhelm L. (1905). Arvelighedslærens elementer. Copenhagen: Gyldendal.
  22. ^ Phạm Thành Hổ, tr. 13.
  23. ^ Lindley Darden & Ruse M (2006). Reasoning in Biological Discoveries: Essays on Mechanisms, Interfield Relations, and Anomaly Resolution. Cambridge University Press. tr. 136-137. ISBN 0521858879.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  24. ^ Ernest W. Crow & James F. Crow (ngày 1 tháng 1 năm 2002). “100 Years Ago: Walter Sutton and the Chromosome Theory of Heredity”. Genetics. 160 (1): 1–4. PMID 11805039. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2009.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết) Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  25. ^ Moore JA (1983). “Thomas Hunt Morgan—The Geneticist”. American Zoologist. 23 (4): 855–865. doi:10.1093/icb/23.4.855. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2009.
  26. ^ Sturtevant AH (1913). “The linear arrangement of six sex-linked factors in Drosophila, as shown by their mode of association” (PDF). Journal of Experimental Biology. 14: 43–59. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2009.
  27. ^ Lorenz MG, Wackernagel W (1994). “Bacterial gene transfer by natural genetic transformation in the environment”. Microbiol. Rev. 58 (3): 563–602. PMID 7968924.
  28. ^ Avery, O. T.; MacLeod, C. M.; và McCarty, M. (1944). “Studies on the Chemical Nature of the Substance Inducing Transformation of Pneumococcal Types: Induction of Transformation by a Desoxyribonucleic Acid Fraction Isolated from Pneumococcus Type III”. Journal of Experimental Medicine. 79 (1): 137–158. doi:10.1084/jem.79.2.137.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  29. ^ Hershey, A. D. & Chase, M. (1952). “Independent functions of viral protein and nucleic acid in growth of bacteriophage”. The Journal of General Physiology. 36: 39–56. doi:10.1085/jgp.36.1.39. PMID 12981234.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  30. ^ Freeland Judson, Horace (1979). The Eighth Day of Creation: Makers of the Revolution in Biology. Cold Spring Harbor Laboratory Press. tr. 51–169. ISBN 0-87969-477-7.
  31. ^ Watson, J. D.; Crick F. H. C. (1953). “Molecular structure of Nucleic Acids: A Structure for Deoxyribose Nucleic Acid” (PDF). Nature. 171 (4356): 737–738. doi:10.1038/171737a0. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  32. ^ Watson, J. D.; Crick, F. H. C. (1953). “Genetical Implications of the Structure of Deoxyribonucleic Acid” (PDF). Nature. 171 (4361): 964–967. doi:10.1038/171964b0. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  33. ^ Yanofsky, Charles (ngày 1 tháng 2 năm 2005). “The Favorable Features of Tryptophan Synthase for Proving Beadle and Tatum’s One Gene–One Enzyme Hypothesis”. Genetics. 169 (2): 511–516. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2009.
  34. ^ Tatum, E. L.; Beadle, G. W. (1941). “Genetic control of biochemical reactions in Neurospora”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America. 27 (11): 499–506. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  35. ^ “George Wells Beadle”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2009.
  36. ^ Crick, F. H.; Barnett, L.; Brenner, S.; Watts-Tobin, R. J. (ngày 30 tháng 12 năm 1961). “General Nature of the Genetic Code for Proteins” (PDF). Nature. 192: 1227–1232. doi:10.1038/1921227a0. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  37. ^ Sanger F, Nicklen S và Coulson AR (1977). “DNA sequencing with chain-terminating inhibitors”. Nature. 74 (12): 5463–5467. doi:10.1073/pnas.74.12.5463. PMID 271968.
  38. ^ Saiki RK, Scharf S, Faloona F, Mullis KB, Horn GT, Erlich HA, Arnheim N (1985). “Enzymatic Amplification of β-Globin Genomic Sequences and Restriction Site Analysis for Diagnosis of Sickle Cell Anemia”. Science. 230 (4732): 1350–1354. doi:10.1126/science.2999980. PMID 2999980.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  39. ^ a b “Human Genome Project Information”. Human Genome Project. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009.
  40. ^ Griffiths (2000), Chapter 2 (Patterns of Inheritance): Introduction. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  41. ^ Griffiths (2000), Chapter 2 (Patterns of Inheritance): Mendel’s experiments. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  42. ^ Griffiths (2000), Chapter 4 (Gene Interaction): Interactions between the alleles of one gene. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  43. ^ Cheney, Richard W. “Genetic Notation”. Christopher Newport University. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2006. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  44. ^ Griffiths (2000), Chapter 2 (Patterns of Inheritance): Human Genetics. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  45. ^ Griffiths (2000), Chapter 4 (Gene Interaction): Gene interaction and modified dihybrid ratios. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  46. ^ Phạm Thành Hổ, tr. 57-58
  47. ^ Mayeux R (2005). “Mapping the new frontier: complex genetic disorders”. The Journal of Clinical Investigation. 115 (6): 1404–1407. doi:10.1172/JCI25421. PMID 15931374.
  48. ^ Griffiths (2000), Chapter 25 (Quantitative Genetics): Quantifying heritability. Truy cập 30 tháng 1 năm 2009.
  49. ^ Luke A, Guo X, Adeyemo AA, Wilks R, Forrester T, Lowe W Jr, Comuzzie AG, Martin LJ, Zhu X, Rotimi CN, Cooper RS (2001). “Heritability of obesity-related traits among Nigerians, Jamaicans and US black people”. Int J Obes Relat Metab Disord. 25 (7): 1034–1041. doi:10.1038/sj.ijo.0801650.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  50. ^ Pearson H (2006). “Genetics: what is a gene?”. Nature. 441 (7092): 398–401. doi:10.1038/441398a. PMID 16724031.
  51. ^ Prescott, L. (1993). Microbiology. Wm. C. Brown Publishers. ISBN 0697013723.
  52. ^ Griffiths (2000), Chapter 8 (The Structure and Replication of DNA): Mechanism of DNA Replication. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  53. ^ Gregory SG (2006). “The DNA sequence and biological annotation of human chromosome 1”. Nature. 441: 315–321. doi:10.1038/nature04727.
  54. ^ Alberts (2002), II.4. DNA and chromosomes: Chromosomal DNA and Its Packaging in the Chromatin Fiber. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  55. ^ Griffiths (2000), Chapter 3 (Chromosomal Basis of Heredity): Mendelian genetics in eukaryotic life cycles. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  56. ^ a b Griffiths (2000), Chapter 2 (Patterns of Inheritance): Sex chromosomes and sex-linked inheritance. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  57. ^ Phạm Thành Hổ, tr. 92-95.
  58. ^ Griffiths (2000), Chapter 7 (Gene Transfer in Bacteria and Their Viruses): Bacterial conjugation. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  59. ^ Griffiths (2000), Chapter 7 (Gene Transfer in Bacteria and Their Viruses): Bacterial transformation. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  60. ^ Trong nhiều tài liệu, tái tổ hợp di truyền (genetic recombination) hay tái tổ hợp được định nghĩa là sự đứt rời và tái nhập các chuỗi DNA để tạo nên một tổ hợp gen mới, và vì thế thường gắn liền tái tổ hợp với sự trao đổi chéo nhiễm sắc thể. Ở đây, tái tổ hợp được xem là sự tạo nên tổ hợp gen mới thông qua trao đổi chéo hoặc phân ly độc lập. Trên thực tế, khi lai phân tích, những gen phân ly độc lập sẽ có tần số tái tổ hợp (recombination frequency) luôn đạt 50% (các gen liên kết với nhau, dù xảy ra trao đổi chéo, vẫn có tần số tái tổ hợp thấp hơn 50%.)
  61. ^ Griffiths (2000), Chapter 5 (Basic Eukaryotic Chromosome Mapping): Nature of crossing-over. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  62. ^ Griffiths (2000), Chapter 5 (Basic Eukaryotic Chromosome Mapping): Linkage maps. Truy cập 31 tháng 1 năm 2009.
  63. ^ Berg JM, Tymoczko JL, Stryer L, Clarke ND (2002). “I. 5. DNA, RNA, and the Flow of Genetic Information: Amino Acids Are Encoded by Groups of Three Bases Starting from a Fixed Point”. Biochemistry (ấn bản 5). New York: W. H. Freeman and Company. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  64. ^ Crick, F. (ngày 8 tháng 8 năm 1970). “Central Dogma of Molecular Biology” (PDF). Nature. 227: 561–563. PMID 4913914. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.
  65. ^ Alberts (2002), I.3. Proteins: The Shape and Structure of Proteins. Truy cập 1 tháng 2 năm 2009.
  66. ^ Alberts (2002), I.3. Proteins: Protein Function. Truy cập 1 tháng 2 năm 2009.
  67. ^ “How Does Sickle Cell Cause Disease?”. Brigham and Women’s Hospital: Information Center for Sickle Cell and Thalassemic Disorders. ngày 11 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.
  68. ^ Imes DL, Geary LA, Grahn RA, Lyons LA (2006). “Albinism in the domestic cat (Felis catus) is associated with a tyrosinase (TYR) mutation”. Animal Genetics. 37 (2): 175. doi:10.1111/j.1365-2052.2005.01409.x.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  69. ^ “MedlinePlus: Phenylketonuria”. NIH: National Library of Medicine. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.
  70. ^ Brivanlou AH, Darnell JE Jr (2002). “Signal transduction and the control of gene expression”. Science. 295 (5556): 813–818. doi:10.1126/science.1066355. PMID 11823631.
  71. ^ Alberts (2002), II.3. Control of Gene Expression – The Tryptophan Repressor Is a Simple Switch That Turns Genes On and Off in Bacteria. Truy cập 3 tháng 2 năm 2009.
  72. ^ Jaenisch R, Bird A. “Epigenetic regulation of gene expression: how the genome integrates intrinsic and environmental signals”. Nature Genetics. 33 (3s): 245–254. doi:10.1038/ng1089.
  73. ^ Chandler VL (2007). “Paramutation: From Maize to Mice”. Cell. 128: 641–645. doi:10.1016/j.cell.2007.02.007.
  74. ^ Griffiths (2000), Chapter 16 (Mechanisms of Gene Mutation): Spontaneous mutations. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009.
  75. ^ Kunkel TA (2004). “DNA Replication Fidelity”. Journal of Biological Chemistry. 279 (17): 16895–16898. doi:10.1038/sj.emboj.7600158.
  76. ^ Griffiths (2000), Chapter 16 (Mechanisms of Gene Mutation): Induced mutations. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009.
  77. ^ Griffiths (2000), Chapter 17 (Chromosome Mutation I: Changes in Chromosome Structure): Introduction
  78. ^ Sawyer SA, Parsch J, Zhang Z, Hartl DL (2007). “Prevalence of positive selection among nearly neutral amino acid replacements in Drosophila”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 104 (16): 6504–10. doi:10.1073/pnas.0701572104. PMID 17409186.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  79. ^ Griffiths (2000), Chapter 24 (Population Genetics): Variation and its modulation. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009.
  80. ^ Griffiths (2000), Chapter 24 (Population Genetics): Selection. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009.
  81. ^ Griffiths (2000), Chapter 24 (Population Genetics): Random events. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009.
  82. ^ Darwin, Charles (1859). On the Origin of Species (ấn bản 1). London: John Murray. tr. 1. Những ý kiến liên quan tiếp sau được trình bày tại Darwin, Charles (1861). On the Origin of Species (ấn bản 3). London: John Murray. xiii.
  83. ^ Gavrilets S (2003). “Perspective: models of speciation: what have we learned in 40 years?”. Evolution. 57 (10): 2197–2215. doi:10.1554/02-727. PMID 14628909.
  84. ^ Wolf YI, Rogozin IB, Grishin NV, Koonin EV (2002). “Genome trees and the tree of life”. Trends Genet. 18 (9): 472–479. doi:10.1016/S0168-9525(02)02744-0. PMID 12175808.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  85. ^ “The Use of Model Organisms in Instruction”. University of Wisconsin: Wisconsin Outreach Research Modules. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2009.
  86. ^ “NCBI: Genes and Disease”. NIH: National Center for Biotechnology Information. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009.
  87. ^ Davey Smith, G (2003). Ebrahim, S. “’Mendelian randomization’: can genetic epidemiology contribute to understanding environmental determinants of disease?”. International Journal of Epidemiology. 32: 1–22. doi:10.1093/ije/dyg070. PMID 12689998. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009.
  88. ^ “Pharmacogenetics Fact Sheet”. NIH: National Institute of General Medical Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009.
  89. ^ Strachan T, Read AP (1999). “Chapter 18: Cancer Genetics”. Human Molecular Genetics 2 . John Wiley & Sons Inc. ISBN 0471330612. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009.
  90. ^ Lodish (2000), Chapter 7: 7.1. DNA Cloning with Plasmid Vectors. Truy cập 7 tháng 2 năm 2009.
  91. ^ Lodish (2000), Chapter 7: 7.7. Polymerase Chain Reaction: An Alternative to Cloning. Truy cập 7 tháng 2 năm 2009.
  92. ^ Brown TA (2002). “Section 2, Chapter 6: 6.1. The Methodology for DNA Sequencing”. Genomes 2 . Wiley-Liss. ISBN 0471250465. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009.
  93. ^ Brown (2002), Section 2, Chapter 6: 6.2. Assembly of a Contiguous DNA Sequence. Truy cập 7 tháng 2 năm 2009.
  94. ^ Service RF (2006). “The Race for the $1000 Genome”. Science. 311 (5767): 1544–1546. doi:10.1126/science.311.5767.1544. PMID 16543431.
  95. ^ Phạm Thành Hổ (2008). Di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 600.
  96. ^ Phạm Thành Hổ (2008). Di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 601.
  97. ^ Phạm Thành Hổ (2008). Di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 601-602.
  98. ^ Phạm Thành Hổ (2008). Di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 602-603.
  99. ^ Đỗ Lê Thăng (2007). Chú giải di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 257-264.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

  • Phạm Thành Hổ (2004). Di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục.
  • Đỗ Lê Thăng (2007). Giáo trình di truyền học . Nhà xuất bản Giáo dục.
  • Đỗ Lê Thăng (2007). Chú giải di truyền học. Đinh Đoàn Long . Nhà xuất bản Giáo dục.
  • Lê Đình Lương (2007). Cơ sở di truyền học. Phan Cự Nhân . Nhà xuất bản Giáo dục.

(tiếng Anh)

  • Alberts, B.; Johnson, A.; Lewis, J.; Raff, M.; Roberts, K.; và Walter, P. (2002). Molecular Biology of the Cell . Garland Science. ISBN 0-8153-3218-1.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  • Griffiths, A.J.F.; Miller, J.H.; Suzuki, D.T.; Lewontin, R.C.; và Gelbart, W.M. (2000). An Introduction to Genetic Analysis. New York: W.H. Freeman and Company. ISBN 0-7167-3520-2.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  • Hartl, D.; Jones, E. (2005). Genetics: Analysis of Genes and Genomes . Jones & Bartlett. ISBN 0-7637-1511-5.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  • Lodish, H.; Berk, A.; Zipursky, L.S.; Matsudaira, P.; Baltimore, D.; và Darnell, J. (2000). Molecular Cell Biology . W.H. Freeman. ISBN 0-7167-3136-3.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Wikibooks tiếng Anh có chủ đề về Di truyền học
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện truyền tải về Di truyền học.
  • Genetics tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
  • Genetics trên chương trình In Our Time của BBC. (Nghe tại đây)
  • Di truyền học trên DMOZ
  • Di truyền học tại Từ điển bách khoa Việt Nam

Bạn đang xem bài viết: Di truyền học – Wikipedia tiếng Việt. Thông tin do truongmaugiaoso8-badinh.edu.vn chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.